Doanh nghiệp ngành rau quả trước cơ hội từ EVFTA

Liên kết là bài toán sống còn

08:20 | 18/02/2020
Ngành rau quả nước ta được đánh giá là một trong những ngành được hưởng lợi lớn khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, tuy vậy vẫn còn rất nhiều vấn đề cần tháo gỡ. Trong đó, cùng với tập trung vào chế biến sâu, việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất cũng như giữa doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp chế biến là bài toán sống còn để tận dụng cơ hội thành công.

Rộng cửa vào EU

Là doanh nghiệp chuyên xuất khẩu các mặt hàng quả như thanh long, chôm chôm, xoài, nhãn, chanh leo…, năm 2019, sản lượng xuất khẩu của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Cao Thành Phát (Bình Thuận) đạt khoảng 12.000 tấn. Thị trường chính là các nước vốn có yêu cầu kỹ thuật cao như Mỹ, Canada, Pháp, Hà Lan… Năm nay, doanh nghiệp này có ý định mở rộng thị trường sang Anh, Đức, Áo, Tây Ban Nha với các mặt hàng chuối, xoài, dừa. “Mới đây EVFTA đã được Nghị viện châu Âu phê chuẩn và dự kiến có hiệu lực ngay trong năm nay, cánh cửa vào EU của chúng tôi chắc chắn rộng mở hơn, đồng nghĩa kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này sẽ lớn hơn con số 20% hiện nay”, ông Nguyễn Công Kính, Giám đốc công ty hồ hởi.


Chủ động tìm hiểu các yêu cầu kỹ thuật là cách để doanh nghiệp rau quả mở rộng thị trường xuất khẩu
Nguồn: ITN

Đây là tâm lý chung của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu rau quả trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp đã có kinh nghiệm xuất khẩu sang các thị trường “khó tính” như Nhật Bản, Mỹ, Australia… Giám đốc Công ty TNHH Dalat GAP (Lâm Đồng) Lê Văn Cường cho biết, công ty này mới tập trung vào thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng do đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của Nhật Bản còn cao hơn EU nên khi EVFTA có hiệu lực, chắc chắn chúng tôi sẽ tính đến việc mở rộng thị trường này. Thêm vào đó, Dalat GAP đã được Control Union (Hà Lan) cấp cấp chứng chỉ “Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn quốc tế” (Global G.A.P) về rau quả, vì thế ông Cường càng tin rằng việc bước vào thị trường EU là “hoàn toàn khả quan”.

Dẫn số liệu tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2019 đạt 3,7 tỷ USD, trong đó thị trường EU mới chiếm khoảng 10% do rào cản về thuế cũng như hàng rào kỹ thuật, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Phúc Nguyên cho rằng “với EVFTA, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, đồng thời doanh nghiệp được tự do xuất nhập khẩu, chắc chắn kim ngạch sẽ tăng lên”.

Hiểu rõ yêu cầu kỹ thuật để tận dụng cơ hội

Theo các cam kết trong EVFTA, muốn xuất khẩu được sang thị trường EU, hàng hóa của Việt Nam, trong đó có mặt hàng rau quả phải bảo đảm các yêu cầu rất khắt khe về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất không được vượt quá mức quy định, đồng thời phải tuân thủ quy định về trách nhiệm xã hội, môi trường và kinh doanh. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp phải quan tâm tới chế biến, nhất là chế biến sâu - trong khi đây vẫn là khâu yếu hiện nay.

Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Phúc Nguyên cho biết, hiện cả nước có khoảng 150 cơ sở nhà máy chế biến có trình độ vào loại trung bình của thế giới, trong đó chế biến sâu vẫn còn yếu. Công suất chế biến vào khoảng 1 triệu tấn/năm, chiếm 10% tổng sản lượng các mặt hàng rau quả sản xuất được, song trên thực tế, công suất chỉ đạt 50% (500.000 tấn). Nguyên nhân bởi vùng nguyên liệu không tập trung, giá nguyên liệu đầu vào cao, chất lượng không ổn định. Thêm nữa, thiếu vốn đầu tư cũng ảnh hưởng đến sản lượng rau quả chế biến còn thấp. “Cũng giống như xuất khẩu các mặt hàng tươi sống, việc xuất khẩu sang EU các mặt hàng chế biến đòi hỏi tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt, buộc doanh nghiệp phải kiểm soát chặt đầu vào, bảo đảm theo tiêu chuẩn Global GAP. Đồng thời, phải liên kết với người sản xuất bởi nếu không sẽ rơi vào tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, doanh nghiệp quảng cáo chào hàng tốt nhưng người sản xuất không đáp ứng yêu cầu dẫn đến đánh mất cơ hội từ EVFTA”, ông Nguyên nhấn mạnh.

Giám đốc Công ty TNHH Dalat Gap Lê Văn Cường bổ sung, khác với xuất khẩu sang Trung Quốc hay Nhật Bản, Hàn Quốc là mặt hàng tươi, xuất khẩu rau quả sang EU đòi hỏi phải cấp đông vì thời gian vận chuyển khoảng 45 ngày. Do vậy, công nghệ chế biến cần được doanh nghiệp chú trọng. Tuy nhiên, thực tế vốn đầu tư cho công nghệ này khá lớn, không phải doanh nghiệp nào trong nước cũng thực hiện được. “Trong năm 2019, chúng tôi đã phối hợp với doanh nghiệp chế biến khác để xuất khẩu 160 tấn rau quả vào Nhật Bản, vì chúng tôi không có lợi thế về chế biến. Việc liên kết này là hết sức cần thiết và đúng hướng để tận dụng các lợi thế của nhau”, ông Cường nói. Đồng thời, ông kiến nghị, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chế biến”. Theo đó, nên có cơ chế về vốn trung hạn, với lãi suất ưu đãi, bởi “nếu lãi suất vẫn khoảng 8% như hiện nay, doanh nghiệp như chúng tôi khó lòng đầu tư”.

Với kinh nghiệm của 10 năm xuất khẩu trái cây, ông Nguyễn Công Kính, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Cao Thành Phát cho rằng, các doanh nghiệp ngành rau quả Việt Nam cần trả lời câu hỏi duy nhất: Làm sao đáp ứng yêu cầu an toàn cho hàng hóa?. Muốn vậy, phải đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị máy móc cũng như vùng nguyên liệu. Theo đó, “doanh nghiệp phải đầu tư công nghệ để kiểm soát đầu vào ngay tại trang trại, nhà xưởng; tự tạo vùng nguyên liệu khép kín, hoặc phối hợp với nông dân. Khi phối hợp, doanh nghiệp phải cắt cử cán bộ kỹ thuật hỗ trợ, tập huấn cho bà con từ khâu nhổ cỏ, trồng cây, phun thuốc, bón phân. Đồng thời, phải làm tốt công tác bảo hộ lao động, cảnh báo nguy hiểm - đây là vấn đề mà EVFTA yêu cầu. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, doanh nghiệp phải chủ động tìm hiểu, nắm rõ các điều kiện, hàng rào kỹ thuật của thị trường mình muốn hướng đến để làm đúng. Chỉ khi đó mới mong tận dụng được các cơ hội do hiệp định mang lại”.

Đan Thanh