Cập nhật 09:52 | 21/10/2019 (GMT+7)
.

Tính kiềm chế đối trọng ở Nghị viện New Zealand : Vai trò của các chính đảng

07:45 | 25/02/2011
Nếu như thế kỷ XIX là giai đoạn đấu tranh Hiến pháp giữa các phe phái chính trị, thì thế kỷ XX là một trong những thời kỳ sự cầm quyền của đảng phái góp phần khiến cán cân Hiến pháp có giai đoạn dịch chuyển theo hướng có lợi cho hành pháp.

Những tài liệu phác thảo về sự xuất hiện của các đảng phái tương đối nhiều, nhưng tác động của bản thân các chính đảng tới Nghị viện lại ít được đề cập tới. Do phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử hầu như chỉ quan tâm đến hoạt động bầu cử và tổ chức của các đảng bên ngoài cơ quan lập pháp. Thực tế, vào cuối những năm 1870, đảng Tự do xuất hiện. Tiếp đến là đảng Cải cách - đảng của các chính trị gia bảo thủ. Công đảng xuất hiện trong Thế chiến I. Khi Công đảng lên nắm quyền năm 1935, hệ thống hai đảng được hình thành. Chính trường New Zealand mang đặc điểm chính trị này cho đến khi hệ thống bầu cử theo cách thức tỷ lệ thành viên hỗn hợp (MMP) được giới thiệu vào năm 1996.

Các đảng phái mang lại thay đổi cơ bản cho Nghị viện. Những thay đổi này bao gồm cách thức mà quyền lực chính trị nào được quyết định sau các cuộc bầu cử; bổ nhiệm và quy định vai trò của Chủ tịch Nghị viện; các khía cạnh của thủ tục Nghị viện, cũng như những ưu tiên liên quan đến công việc của Chính phủ.

Trong thế kỷ XIX, cách thức bầu cử lập pháp là bầu gián tiếp, trong đó những đại diện được bầu chủ yếu hoạt động như “những người được ủy thác” cho các khu vực bầu cử của họ và các ứng cử viên được tuyên bố công khai. Cuộc vận động cử tri sẽ diễn ra vào một ngày theo chỉ định để các ứng cử viên đưa ra bài phát biểu trước đám đông. Vài ngày sau đó, một cuộc thăm dò chính thức sẽ được thực hiện theo yêu cầu của các ứng cử viên thất bại. Tại thời điểm đó, các ứng cử viên trúng cử thường ít thực hiện đúng cam kết về hành động đã đề ra, ngay cả khi các cuộc tranh luận về những khác biệt chính sách xảy ra mạnh mẽ, và dù người ta mong chờ những đại biểu dân cử này sẽ theo đuổi đên cùng vì quyền lợi của cử tri.

Có thể nói, hệ thống đa đảng giúp củng cố mối liên kết gần gũi hơn giữa bầu cử, Chính phủ và hoạt động lập pháp. Vai trò của nó đã được công chúng thừa nhận. Chính phủ được hình thành trực tiếp từ các đảng phái, liên minh tham gia bầu cử. Phần lớn các thành viên trong Chính phủ cũng là thành viên Nghị viện.

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX, tính kiềm chế đối trọng ở Nghị viện New Zealand mới thể hiện rõ nhất. New Zealand là một quốc gia quân chủ lập hiến với một thể chế đại nghị. Ở quốc gia này, Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Bà được đại diện bởi một Toàn quyền, vốn được bổ nhiệm dựa trên sự đề cử từ Thủ tướng. Còn quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, được bầu cử dân chủ.

Cụ thể, Nghị viện New Zealand theo thể chế đơn viện, còn gọi là Viện Dân biểu New Zealand, bao gồm 120 thành viên. Cuộc bầu cử Nghị viện được tổ chức cứ ba năm một lần dưới dạng đại diện tỷ lệ gọi là Thành viên Tỷ lệ Hỗn hợp (MMP). Thành viên Tỷ lệ Hỗn hợp thường có 120 ghế trong Nghị viện; một ghế phụ thỉnh thoảng có thể được thêm vào nhằm đảm bảo sự đại diện tỷ lệ. Trong tổng số các ghế tại Nghị viện, có 65 ghế (được bầu chọn trực tiếp bởi cử tri) được thay thế cho các thành viên cũ, bao gồm cả 7 ghế dành cho thổ dân Maori. Còn 55 ghế được phân bổ tương ứng với tỷ lệ ủng hộ mà người dân dành cho mỗi chính đảng.

Hiện nay, New Zealand có khoảng 20 đảng phái, trong đó có 2 đảng lớn là đảng Dân tộc và Công đảng. Đảng Dân tộc hiện là đảng chính trong liên minh cầm quyền, thành lập năm 1936 để bảo vệ quyền lợi cho tư bản lớn và điền chủ giàu có và Công Đảng hiện là đảng đối lập, thành lập năm 1916 - đại diện cho các công đoàn. Dưới hệ thống bầu cử theo tỷ lệ thành viên hỗn hợp, một đảng có thể giành được ghế trực tiếp từ cử tri hoặc nhận được hơn 5% tổng số phiếu bầu các đảng để có được ghế đại diện trong Nghị viện. Chính phủ có thể tiếp tục lãnh đạo đất nước chỉ khi đảng cầm quyền giành được đa số ủng hộ tại Nghị viện, hay có thể bảo đảm đa số ghế trong cơ quan lập pháp nhờ liên minhvới các chính đảng khác, để vượt qua các cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm và lập pháp tại Nghị viện.

Ví dụ, từ tháng 10.2005 - 11.2008, chính phủ do Công đảng lãnh đạo được thành lập dựa trên liên minh với đảng Cấp tiến. Ngoài ra, đảng New Zealand First và Tương lai thống nhất cũng đóng góp phần tín nhiệm và ủng hộ của họ cho đảng cầm quyền để đáp lại việc người của hai đảng được nắm giữ các chức bộ trưởng không thuộc nội các. Tuy nhiên, đảng cầm quyền còn lập thỏa ước với đảng Xanh để đảng này không bỏ phiếu bất tín nhiệm và ủng hộ chính phủ... Những cuộc dàn xếp trên nhằm đảm bảo cho một thế đa số vững chắc trong các cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm tại Nghị viện.

Ngoài ra, mối quan hệ kiềm chế đối trọng nhau giữa cơ quan hành pháp - lập pháp còn thể hiện ở chỗ thành viên của Hội đồng Hành pháp (vốn là một hội đồng chính thức bao gồm tất cả bộ trưởng trong Chính phủ Hoàng gia) phải là thành viên của Nghị viện và phần lớn trong số đó nằm trong thành phần Nội các. Nội các là cơ quan đưa ra những chính sách quan trọng do Thủ tướng lãnh đạo. Thủ tướng là  người được chọn ra từ những người đứng đầu đảng cầm quyền hay liên minh giữa các đảng nắm đa số trong Nghị viện. Đây là cơ chế quyền lực cao nhất của Chính phủ.

Công Minh
Quay trở lại đầu trang