Cập nhật 08:55 | 21/10/2019 (GMT+7)
.
Chính đảng trong Nghị viện

Tương quan quyền lực

07:18 | 16/09/2011
Chính đảng là một trong những yếu tố không thể thiếu khi tìm hiểu nghị viện ở nhiều nước. Vai trò của các chính đảng trong cơ quan lập pháp có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loại hình chính thể (nghị viện, tổng thống hoặc hỗn hợp); số lượng chính đảng trong nghị viện, mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp; sự phát triển về lịch sử và văn hóa; sức mạnh tương đối của cấu trúc bên trong đảng và các nguồn lực.

Phân bố ghế cho các chính đảng tại Nghị viện New Zealand

Các chính đảng ở phương Tây thường bắt nguồn từ các phường hội thủ công, các hội nghề nghiệp và các nhóm lợi ích. Chính đảng ở các quốc gia non trẻ thường được hình thành từ các phong trào giải phóng (ví dụ, Đảng KANU ở Kenya, Đảng Quốc đại ở Ấn Độ), hay gần đây là từ các phong trào vũ trang chống nội chiến (đảng ANC ở Nam Phi và đảng RPF ở Rwanda). Ở một số nước, các chính đảng xuất hiện dựa vào một số nhà lãnh đạo nhất định, hoặc thông qua các cuộc đảo chính. Các đảng này sẽ phải đối mặt với thách thức của việc xây dựng bản sắc riêng, tổ chức bầu cử và củng cố kỷ luật đảng trong nghị viện. Họ thường thiếu kinh nghiệm trong việc giải trình trước cử tri và thiếu nguồn lực để củng cố, phát triển tổ chức của đảng nhằm hoạt động trong nghị viện hiệu quả hơn.

Hệ thống chính trị hiện đại thường được mô tả là hệ thống một đảng, hai đảng và đa đảng. Ở các nước có hai đảng, đảng giành được đa số phiếu sẽ kiểm soát cơ quan lập pháp. Ở những nước theo chế độ nghị viện, đảng giành chiến thắng áp đảo cũng có được sự kiểm soát ngành hành pháp. Chủ tịch của đảng thắng cử sẽ trở thành thủ tướng (đứng đầu ngành hành pháp), và các đảng viên sẽ được bổ nhiệm vào nội các. Ở những nước theo chính thể tổng thống và chính thể lai, tổng thống và cơ quan lập pháp được bầu riêng rẽ, và quyền kiểm soát chính trị của cơ quan lập pháp không đảm bảo quyền kiểm soát ngành hành pháp của chính đảng và ngược lại. Điều phổ biến trong hệ thống đa đảng, bao gồm cả chính thể nghị viện, tổng thống và hỗn hợp, là một đảng có thể giành được số ghế trong nghị viện nhiều hơn bất kỳ đảng nào khác, nhưng lại là thiểu số nếu tất cả hoặc một số đảng khác hợp lại. Vì thế các đảng có thể hợp lại thành liên minh để chiếm được phần đa số trong nghị viện và về mặt lý thuyết, sẽ thông qua những đạo luật đáp ứng được chương trình xây dựng luật của mình và phản đối những dự luật của nhóm đối lập. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo đảng cũng biết rằng, trong tình huống này, lý thuyết thường khác xa thực tế, khi mà mỗi đối tác trong liên minh thường khó có thể thỏa hiệp về chương trình hành động của đảng mình để đạt được sự đồng thuận với các đối tác.

Còn trong hệ thống đơn đảng, các ứng cử viên được thăng chức hoặc được đề cử bởi một đảng duy nhất, cơ cấu nghị sỹ trong nghị viện không thiết lập trên cơ sở đảng phái. Trên thực tế, các nước theo hệ thống một đảng quyền lực của nghị viện thường hạn chế hơn. Tuy nhiên, ngay cả đối với hệ thống đa đảng cũng có thể có bước đi tương tự như hệ thống đơn đảng nếu trong hệ thống đó có một đảng chiếm ưu thế tuyệt đối và có khả năng ngăn chặn sự cạnh tranh từ các đảng phái khác.

Lê Anh
Quay trở lại đầu trang