Cập nhật 11:03 | 21/10/2019 (GMT+7)
.
Nghị viện New Zealand

Cân bằng quyền lực giữa các cơ quan trong Nghị viện

08:41 | 02/08/2013
Nghị viện New Zealand bao gồm nguyên thủ quốc gia - Nữ hoàng Elizabeth II, người được đại diện bởi Toàn quyền tại Nghị viện. Phần còn lại là Hạ viện, gồm các nghị sỹ do cử tri từ 18 tuổi trở lên bầu ra. Khi một chính đảng hay nhiều chính đảng nhận được sự ủng hộ của đa số tại Hạ viện thì chính đảng đó hay liên minh chính đảng đó có quyền đứng ra thành lập Chính phủ và điều hành đất nước. Chính phủ có trách nhiệm trả lời Nghị viện về các chính sách và chương trình hành động của mình. Những vấn đề này được đưa ra tranh luận tại Hạ viện và các ủy ban được lựa chọn sẽ tiến hành thẩm tra.

Hội đồng Lập pháp

Tuy nhiên giữa năm 1854 – 1989, cơ quan này lại do 3 phần cấu thành nên với sự tồn tại của Hội đồng Lập pháp (tức Thượng viện). Hội đồng Lập pháp bao gồm các thành viên là những người được chỉ định thay vì được cử tri bầu. Ban đầu, Hội đồng Lập pháp của New Zealand có ý nghĩa tương đương với Thượng viện trong hệ thống Nghị viện Anh, đóng vai trò độc lập và có nhiều ảnh hưởng. Tuy nhiên điều này lại không xảy ra ở xứ sở Kiwi và về cơ bản là Hội đồng Lập pháp không có nhiều việc để làm. Ngay sau khi Chính phủ bổ nhiệm các thành viên trong Hội đồng này – thẩm quyền vốn thuộc Toàn quyền, dần dần tính độc lập của Hội đồng bị mất đi, đặc biệt là khi Chính phủ sắp xếp các vị trí nhằm phục vụ mục đích của cơ quan hành pháp. Điều này gây ra tình trạng thỉnh thoảng các thành viên Hội đồng chống đối lại Chính phủ. Sự việc đáng kể nhất là vào năm 1891, khi Hội đồng cản trở các chính sách của Chính phủ do đảng Tự do cầm quyền. Nỗ lực của Chính phủ nhằm bố trí các thành viên trong cơ cấu Hội đồng Lập pháp đã gây phản tác dụng khi Toàn quyền từ chối phê chuẩn các nhân vật được đề cử và sau đó nước Anh đã phải đứng ra yêu cầu Toàn quyền hợp tác với cơ quan hành pháp. Kể từ đó, Hội đồng Lập pháp mất đi sự độc lập nhưng lại tạo điều kiện hơn cho Chính phủ trong việc mua chuộc các nghị sỹ.

Toàn quyền

Toàn quyền (hay còn được gọi là Thống đốc trước năm 1917) có quyền triệu tập và giải thể Nghị viện cũng như phê chuẩn các đạo luật đã được cơ quan này thông qua. Ngoài ra, Toàn quyền còn có quyền bổ nhiệm Thủ tướng và tham dự Hội đồng Nhà nước để tiếp nhận những ý kiến đóng góp xung quanh các quyết định của Chính phủ. Có hẳn một quy ước về việc Toàn quyền phải chấp thuận những đề xuất của Thủ tướng, người được hậu thuẫn bởi phe đa số tại Hạ viện.

Giữa năm 1840 – 1854, vị trí Thống đốc, được bổ nhiệm từ Anh, cai trị New Zealand thay cho Nữ hoàng vắng mặt. Những người da trắng di cư tới đây muốn lập ra Chính phủ của riêng họ. Sau các cuộc bầu cử vào năm 1853, Thống đốc George Grey đã chọc giận những người đến định cư bằng cách trì hoãn việc triệu tập Nghị viện. Người kế nhiệm tạm thời của Grey là RH Wynyard cũng không giải quyết được gì hơn khi ông từ chối trao quyền cho một Chính phủ được lập ra bởi phe đa số tại Hạ viện. Mãi cho tới năm 1856 vấn đề này mới được giải quyết.

Cũng kể từ đó, Hạ viện cứng rắn hơn, mặc dù Thống đốc vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc quyết đáp những vấn đề liên quan tới quân sự và chính sách về người Maori. Tình trạng này kéo dài đến những năm 1860, đặc biệt là khi những phí tổn dành cho cuộc chiến tranh ở đảo Bắc đẩy quốc đảo này lâm vào rắc rối tài chính. Cuối cùng, New Zealand đảm nhận trách nhiệm giải quyết những vấn đề liên quan tới lĩnh vực quân sự và Thống đốc cũng bị tước nốt thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan tới người Maori.  Sau đó, Thống đốc chỉ còn là một chức danh chủ yếu mang tính biểu tượng.

Kể từ năm 1917, vị trí Thống đốc được gọi là Toàn quyền. Toàn quyền đóng vai trò quan trọng trong buổi lễ khai mạc kỳ họp và lễ ra mắt toàn thể của Nghị viện. Tuy hoạt động của Nghị viện đã có nhiều sự đổi mới qua các năm và ngày nay lễ ra mắt chỉ được tiến hành 3 năm một lần sau mỗi cuộc tổng tuyển cử, song về cơ bản tuần tự tiến hành của buổi lễ ra mắt hầu như không thay đổi kể từ Nghị viện khóa đầu tiên vào năm 1854.

Thông thường, lễ ra mắt được mở màn với 21 phát súng, tiếp đó là các màn diễu binh và kèn trống tưng bừng để chào mừng Toàn quyền tới trụ sở Nghị viện. Kể từ năm 1989, các màn nghi lễ chào mừng được tô điểm thêm bởi nét văn hóa của thổ dân Maori như các tiết mục karanga (nghi thức gọi chào mừng), haka (điệu vũ chiến đấu) và powhiri (nghi thức tiếp đón tryền thống). Buổi lễ được tổ chức tại trụ sở Phòng Hội đồng Lập pháp với tương đối nhiều nghi thức lâu đời và rực rỡ sắc màu. Khi nghi thức diễn ra, Toàn quyền đi theo sau Người cầm roi đen (tương đương với chức danh cảnh vệ) và tiến vào hội trường. Tiếp đó, Người cầm roi đen sẽ triệu tập các thành viên thuộc Phòng tranh luận của Hạ viện. Theo nghi thức được kế tục từ Westminster (Hạ viện Anh), Toàn quyền - người đại diện cho Nữ hoàng tại Nghị viện – không đặt chân vào trụ sở Hạ viện bởi cơ quan lập pháp này độc lập với quyền lực của Nữ hoàng. Người cầm roi đen sẽ gõ 3 tiếng lên cánh cửa khóa chặt của Phòng thảo luận của Hạ viện và các hạ nghĩ sỹ sẽ đi theo Người cầm roi đen cùng cảnh vệ của Hạ viện (Serjeant-at-Arms) và Chủ tịch Hạ viện. Toàn quyền sẽ đọc bài diễn văn trước ngai vàng và khi Toàn quyền rời khởi Phòng Hội đồng Lập pháp thì sẽ có bài quốc ca hoặc hợp xướng được bật lên.

Thanh Chi
Quay trở lại đầu trang