Cập nhật 12:08 | 14/10/2019 (GMT+7)
.
Nghị viện New Zealand

Vai trò của Chủ tịch Nghị viện

08:42 | 02/08/2013
Chủ tịch Nghị viện là người đứng đầu Nghị viện và đại diện cho Nghị viện trước Nữ hoàng Anh. Chủ tịch Nghị viện chịu trách nhiệm chỉ đạo các hoạt động của Nghị viện cũng như điều hành các phiên họp. Chủ tịch cũng chịu trách nhiệm về ngân sách của Nghị viện, đồng thời đứng đầu Ủy ban phụ trách vận hành các tòa nhà và các thiết bị.

Mô hình Nghị viện hiện đại đòi hỏi Chủ tịch Nghị viện không phân biệt đảng phái, nhưng trong quá khứ không hẳn như vậy. Vào thế kỷ XVIII, trước khi xuất hiện cơ chế đảng phái, một số vị Chủ tịch khá thiên vị. Ví dụ trong những năm 1860, Chủ tịch Nghị viện David Munro, người có xu hướng ủng hộ Chính phủ, đã sử dụng tiểu xảo để có thể thông qua dự luật do Chính phủ trình lên trước khi phiên làm việc kết thúc: khi đến giờ nghỉ ăn tối, ông đã ra lệnh vặn ngược đồng hồ để những thủ tục cuối cùng được hoàn tất.

Cơ chế đảng phái hình thành đã thay đổi tình trạng này. Bắt đầu từ năm 1890, Chủ tịch thường do đảng cầm quyền đề cử, nhưng một khi đã nhậm chức, Chủ tịch phải có quyết định độc lập với đảng của mình.

Bảo đảm trật tự Nghị viện

Nội quy của Nghị viện chỉ rõ cơ chế hoạt động của Nghị viện, thủ tục thông qua dự án luật, những điều các nghị sỹ được làm và không được làm, cùng với chế tài khi vi phạm.

Vào thế kỷ XIX, Chủ tịch Nghị viện có thể phạt tiền nghị sỹ có những hành vì không phù hợp hoặc chống đối Nghị viện, nhưng điều này ít khi xảy ra. Chủ tịch cũng có thể gọi đích danh nghị sỹ và yêu cầu ghi chép lại hành vi không phù hợp vào biên bản. Chủ tịch cũng có thể yêu cầu nghị sỹ rời khỏi phòng họp, và Nghị viện sẽ ra nghị quyết khiển trách hành vi của thành viên này. Tuy nhiên, hình thức khiển trách này khá nghiêm trọng nên hiếm khi xảy ra. Bị yêu cầu ra khỏi phòng họp xảy ra thường xuyên hơn, và các nghị sỹ cũng coi đây là việc tương đối bình thường. Vào những năm 1970 và 1980, quy định về biện pháp trừng phạt không chính thức từng được đề xuất, theo đó những nghị sỹ có thể bị yêu cầu ra ngoài để lấy lại bình tĩnh mà không phải chịu hình thức khiển trách nào khác. Hiện nay, nếu một nghị sỹ bị gọi đích danh, Nghị viện sẽ bỏ phiếu về việc truất quyền tham dự phiên họp của nghị sỹ đó trong một thời gian nhất định; nếu bị mất quyền trên, nghị sỹ đó đương nhiên mất quyền bỏ phiếu.

Điều hành các phiên thảo luận

Một trong những nhiệm vụ của Chủ tịch Nghị viện là điều hành các phiên thảo luận tại hội trường cũng như bảo đảm trật tự cho các phiên họp. Thừa hưởng quy định từ Nghị viện Anh, New Zealand cũng yêu cầu nghị sỹ phát biểu vo hoặc từ ghi chép tóm tắt, thay vì đọc các bài phát biểu đã chuẩn bị trước. Quy định này tồn tại đến năm 1966, sau đó các nghị sỹ có thể đọc từ bài chuẩn bị hoàn chỉnh. Thực tế, Chủ tịch Nghị viện rất khó thực hiện được quy định trên. Việc phải nói vo hoặc từ ghi chép tóm tắt khiến nhiều nghị sỹ mới chưa kịp thích ứng. Kể cả khi phát hiện thấy có nghị sỹ có biểu hiện như đang đọc, người này có thể chống chế bằng cách nói rằng đang phát biểu dựa trên “ghi chép đầy đủ”.

Hồi thế kỷ XIX, Nghị viện không có giới hạn về thời gian phát biểu. Một vài nghị sỹ mới có thể phát biểu tới hàng tiếng, nhưng Chủ tịch Nghị viện không có cách gì để hạn chế tình trạng này. Công việc cần giải quyết tăng thêm đồng nghĩa với việc cần giới hạn thời gian phát biểu của từng nghị sỹ. Vào năm 1894 thời hạn này là 30 phút, hoặc một tiếng đối với những vấn đề quan trọng. Thời hạn này dần rút ngắn lại trong thế kỷ XX: từ 20 phút, đến 10 phút và hiện tại là 5 phút. Chủ tịch Nghị viện có trách nhiệm tính giờ, sử dụng một chiếc đồng hồ và một chiếc chuông.

Giám sát trang phục của nghị sỹ

Một trong những nghĩa vụ của các nghị sỹ là đến Nghị viện trong trang phục phù hợp. Nghị viện có quy định riêng tương đối phức tạp về việc mặc áo vét, cà vạt và mũ như thế nào, mặc lúc nào và ở đâu.

Theo một tập quán cũ bắt nguồn từ Hạ viện Anh, các nghị sỹ không được đội mũ khi đi vào hoặc đi ra khỏi Nghị viện hoặc khi phát biểu trước Nghị viện. Thời gian đầu, quy định buộc các nghị sỹ phải đứng lên và bỏ mũ xuống mỗi lần nhận được thông điệp từ Toàn quyền tạo ra tình huống khá tức cười khi các nghị sỹ liên tục đứng lên ngồi xuống. Theo một quy định khác được đưa ra từ năm 1865, nghị sỹ nào muốn phát biểu ý kiến, nghị sỹ đó phải ở tại vị trí của mình và đội mũ. Để tuân thủ đúng quy định, nhiều nghị sỹ phải vội vã mượn thậm chí là giật mũ của người xung quanh. Tập quán này được duy trì mãi tới năm 1960.

Vào thời điểm đó, một số nghị sỹ phản đối việc mặc lễ phục. Xu hướng thời trang khi đó là đàn ông để tóc dài và mặc áo sơ mi màu sặc sỡ, vì thế nghị sỹ Bob Tizard và Warren Freer đã tiến hành chiến dịch không mặc áo vét. Thời đó phe đối lập thường phản đối quyết định của Chủ tịch Nghị viện bằng cách cởi bỏ áo vét và chỉ chịu mặc lại khi bị đe dọa mất tư cách nghị sỹ. Nghị sỹ Tizard đã bắt chước hành động này bằng cách đội một chiếc mũ vải bông màu cam nổi bật. Tuy nhiên ngài Chủ tịch Nghị viện vẫn giữ quan điểm của mình và quy định mặc lễ phục được giữ nguyên.

Vào những năm 1980 trong các phiên thảo luận mùa hè, quy định mặc vét được nới lỏng, nhưng các nghị sỹ vẫn phải đeo cà vạt. Năm 1993, Chủ tịch Nghị viện Peter Tapsell yêu cầu các nghị sỹ mặc nguyên áo vét trong các phiên họp.

Ngọc Điệp
Quay trở lại đầu trang