Cập nhật 22:26 | 25/02/2020 (GMT+7)
.
Các hình thức giám sát

Bỏ phiếu bất tín nhiệm - công cụ giám sát có tính răn đe

08:31 | 01/08/2014
Ở những nước có Chính phủ được thành lập từ nghị viện, quy trình quy trách nhiệm của Chính phủ trước nghị viện được thực hiện chủ yếu bằng hai hình thức: bỏ phiếu bất tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ. Trong số 88 nước được khảo sát, 64 nghị viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, trong đó 36 nước theo chế độ đại nghị, 10 nước theo chế độ tổng thống, 18 nước theo chế độ hỗn hợp; các nước còn lại đại đa số với chế độ tổng thống không thừa nhận hình thức bỏ phiếu này.

Nói chung, ở những nước theo chế độ lưỡng viện, thượng viện dù được trao một số quyền buộc Chính phủ chịu trách nhiệm giải trình nhưng không có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nhưng ở Romania, Chính phủ chịu trách nhiệm trước phiên họp chung của hai viện thì bỏ phiếu bất tín nhiệm có thể diễn ra tại phiên họp đó.

Các điều kiện để tiến hành bỏ phiếu bất tín nhiệm khá ngặt nghèo. Trong số 88 nước, nghị viện 14 nước không có quy định cụ thể về số lượng nghị sỹ đủ để kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm; ở 14 nước con số này ít hơn 1/5 tổng số nghị sỹ; ở 14 nước phải có từ 1/5 cho đến 1/3 tổng số nghị sỹ cùng ký, kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm mới được đưa ra thảo luận; 13 nước yêu cầu phải hơn 1/3 tổng số nghị sỹ, ví dụ ở Madagascar tỷ lệ này là hơn 50%. Các nước còn lại không có thông tin về vấn đề này.

Để kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm được thông qua, 16 nước đòi hỏi chỉ cần trên 50% số nghị sỹ có mặt đồng ý; 33 nước cần phải có trên 50% tổng số nghị sỹ; còn ở 8 nước, phải có đa số nhất định như 3/5 hoặc 2/3 tổng số nghị sỹ của viện. Các đảng có người trong Chính phủ thường dựa vào quy định này để vận động đối phó với bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Ở 44 nước, Chính phủ phải từ chức nếu nghị viện thông qua kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm; ở 12 nước, các nghị sỹ cũng đối mặt với rủi ro mất ghế nếu thông qua kiến nghị, vì Chính phủ được lựa chọn giữa từ chức và giải tán nghị viện. Ví dụ, ở Hungary và Tunisia, hai lần bỏ phiếu bất tín nhiệm thành công đã dẫn đến việc giải tán nghị viện. Chính phủ các nước đó cũng có thể cố tình thua trong bỏ phiếu nhằm mục đích giải tán nghị viện.

Trên thực tế hình thức giám sát này ít được sử dụng vì điều kiện khắt khe nói trên, cộng với hệ quả của nó. Trong khảo sát của IPU, đại diện của 30 nghị viện trong số 64 nước có quy định về bỏ phiếu bất tín nhiệm cho biết họ chưa bao giờ sử dụng hình thức giám sát này. Trong số những nước đã từng áp dụng, tỷ lệ thành công không cao. Chẳng hạn từ năm 1990 - năm 2000, nghị viện của 7 nước đã 10 lần thông qua kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm; trong khi 27 nghị viện không thông qua kiến nghị này.

Cần phân biệt giữa bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với toàn thể chính phủ và bỏ phiếu đối với cá nhân bộ trưởng. Ở 35/88 nước, nghị viện chỉ được bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với tập thể Chính phủ mà không được bỏ phiếu đối với cá nhân nghị sỹ; có 8 nước chỉ cho phép bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với cá nhân bộ trưởng; một số nước cho phép cả hai hình thức bỏ phiếu bất tín nhiệm. Bỏ phiếu bất tín nhiệm cá nhân bộ trưởng không ảnh hưởng ngay đối với Chính phủ, vì có thể cử người khác thay. Nhưng nếu lặp lại nhiều lần thì uy tín Chính phủ bị giảm và chịu áp lực phải từ chức, thậm chí như ở Litva nếu quá nửa bộ trưởng bị thay thế thì quyền lực của Chính phủ phải được nghị viện bỏ phiếu khẳng định lại hoặc Chính phủ phải từ chức.

Hoài Thu
Quay trở lại đầu trang