Ý KIẾN ĐẠI BIỂU - Ý KIẾN CỬ TRI
Cập nhật 22:26 | 25/02/2020 (GMT+7)
.
Dự thảo Luật PPP:

Quy định chưa cụ thể thì khó thực hiện, thiếu khả thi

16:03 | 20/11/2019
Dự thảo Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) chưa đề cập đến việc doanh thu các dự án sụt giảm do phải điều chỉnh hợp đồng, do các vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (điều chỉnh lại quy hoạch, chậm tiến độ bố trí vốn…).Nhu vậy sẽ không đủ cơ sở pháp lý để giải quyết dứt điểm các vấn đề đang tồn tại. Ví dụ, Công ty CP Đường cao tốc Đèo Cả triển khai dự án BOT đối với 4 hầm đường bộ, cơ quan nhà nước đã đơn phương điều chỉnh quy hoạch cắt giảm 2/7 trạm thu phí theo cam kết và bố trí vốn ngân sách thiếu gần 1.200 tỷ đồng làm hụt thu doanh thu của dự án hơn 2.000 tỷ đồng. Việc này đã gần 2 năm nhưng vẫn nằm trong quá trình nghiên cứu của các cơ quan nhà nước.

Chính phủ nên “bắt con cá rô”

Tôi tán thành với ý kiến của cơ quan thẩm tra cho rằng dự thảo Luật PPP có nhiều chính sách, cơ chế mới nhưng quy định chưa cụ thể, khó thực hiện. Trong đó, theo ý kiến của nhiều nhà đầu tư, cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 77 dự thảo luật chưa rõ ràng, dễ dẫn đến không công bằng, vì không có cơ sở, căn cứ chia sẻ 50-50 giữa Chính phủ và nhà đầu tư trong trường hợp hụt hoặc vượt doanh thu của dự án.

Các nhà đầu tư cho rằng, cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu giữa Chính phủ và nhà đầu tư phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố khách quan và chủ quan tác động ảnh hưởng đến tăng, giảm thu của dự án. Trường hợp chia sẻ 50-50 khi hụt doanh thu có thể chỉ hợp lý do tác động của các nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, do thiên tai, địch họa. Còn nếu do các nguyên nhân chủ quan thuộc trách nhiệm các bên trong việc thực hiện các cam kết, hoặc trong trường hợp do Nhà nước thay đổi pháp luật ảnh hưởng tới phương án tài chính của dự án thì Chính phủ phải chia sẻ tối đa mức hụt doanh thu mới hợp lý.

Trường hợp doanh thu của dự án tăng do các yếu tố khách quan từ nhu cầu của thị trường, của sự phát triển kinh tế - xã hội thì Chính phủ cần cân nhắc không nên chia sẻ phần tăng thu này mà có thể điều chỉnh giảm giá phí dịch vụ hoặc rút ngắn thời hạn hợp đồng. Đây là cơ chế chia sẻ hợp lý, thể hiện rõ chính sách, công cụ đòn bẩy kinh tế của nhà nước đủ mạnh để phát triển mạnh mẽ phương thức đầu tư này. Tóm lại, Chính phủ cần cân nhắc không nên “nắm nhỏ, bỏ to” mà cần “bỏ con săn sắt, bắt con cá rô”, đó là các nhà đầu tư lớn. Điều này thể hiện một khía cạnh về bản chất của một Chính phủ kiến tạo và thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong giai đoạn mới.

Vấn đề quan trọng khác, dự thảo luật chưa đề cập đến sự giảm doanh thu của các dự án phải điều chỉnh hợp đồng, do các vi phạm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng, đó là sự điều chỉnh lại quy hoạch, chậm tiến độ bố trí vốn đầu tư của Nhà nước ảnh hưởng tới phương án tài chính của dự án. Sự thiếu quy định cụ thể các vấn đề này sẽ không có đủ cơ sở pháp lý để giải quyết dứt điểm các vấn đề đang tồn tại và sẽ tiếp tục phát sinh trong thực tế. Minh chứng của lỗ hổng pháp lý này là sự chậm trễ bố trí vốn hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho giải phóng mặt bằng của Dự án đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với số tiền gần 4.200 tỷ đồng. Dự án đã đưa vào sử dụng vốn hỗ trợ theo cam kết của Chính phủ đến nay vẫn là con số 0. 5 năm qua công ty đã phải vay tín dụng để bù đắp số lãi phát sinh hơn 800 tỷ đồng do công ty phải trả. Liệu số tiền trả lãi vay này Chính phủ có chia sẻ không?

Hoặc một ví dụ khá thú vị khác liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi kết hợp đồng với Công ty CP Đường cao tốc Đèo Cả, triển khai dự án BOT đối với 4 hầm đường bộ đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Cù Mông, đèo Hải Vân. Cơ quan nhà nước đã đơn phương điều chỉnh quy hoạch cắt giảm 2/7 trạm thu phí theo cam kết, trong đó có trạm thu phí La Sơn - Túy Loan. Việc điều chỉnh quy hoạch cộng với việc bố trí vốn ngân sách theo cam kết của Chính phủ còn thiếu khoảng gần 1.200 tỷ đồng, theo báo cáo gần nhất của Kiểm toán Nhà nước đã làm hụt thu doanh thu của dự án so với phương án tài chính ban đầu hơn 2.000 tỷ đồng, dễ dẫn đến phải điều chỉnh hợp đồng.

Việc này đã gần 2 năm nhưng vẫn nằm trong quá trình nghiên cứu của các cơ quan nhà nước, trong khi Công ty Đèo Cả theo hợp đồng ký kết hoàn toàn có quyền tổ chức thu phí đoạn La Sơn - Túy Loan, vì hợp đồng này đã ký năm 2016 trước khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực. Điều đó có nghĩa là hợp đồng chuyển tiếp được tiếp tục thực hiện là trường hợp vô hại, không cần phải điều chỉnh hợp đồng, nhưng đang dự kiến sẽ đưa vào loại không thuộc trường hợp vô hại, tức là sẽ phải điều chỉnh hợp đồng và Chính phủ sẽ bố trí nguồn để bù số tiền giảm doanh thu này.

Vấn đề lớn hơn sẽ đặt ra là: liệu Chính phủ có đủ tiền để bù giảm doanh thu cho nhiều dự án khác, trước mắt là các dự án BOT nâng cấp quốc lộ 1A, đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông hoàn thành sẽ tạo ra sự phân lưu lớn về lưu lượng phương tiện giao thông giữa 2 tuyến đường này, có thể phải dẫn đến sửa đổi 17 hợp đồng BOT đầu tư nâng cấp quốc lộ 1A. Thật là khó khăn và cũng lãng phí, thiếu trách nhiệm trong sử dụng ngân sách nhà nước đang còn rất eo hẹp, trong khi chưa biết đến khi nào Chính phủ sẽ tổ chức thu phí đoạn La Sơn - Túy Loan để bù đắp. Cũng thật rủi ro cho Công ty Đèo Cả, không biết khoản giảm bù doanh thu này đến khi nào Chính phủ sẽ sửa lại hợp đồng và sẽ thanh toán. Thực tế vướng mắc trên trong thực hiện hợp đồng công tư, dự án luật cần phải tính đến, cần quy định rõ trách nhiệm và minh bạch về thời hạn và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan ký kết hợp đồng với các nhà đầu tư PPP.

Ưu đãi kiểu “rắc thính nhiều mùi”

Về tính khả thi của dự án luật , tôi cơ bản tán thành với ý kiến của cơ quan thẩm tra cho rằng dự án luật còn có một số quy định chưa khả thi cao. Theo tôi tính khả thi chưa cao nhất thể hiện ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 74 của dự thảo luật. Các ưu đãi này nhà đầu tư đánh giá rất cao nhưng theo họ vẫn chỉ như "rắc thính nhiều mùi" giống như các ưu đãi đầu tư của nhiều các dự án luật khác. Vì quy định còn chung chung như vậy, luật sẽ không có tính khả thi, còn phải chờ sửa đổi, cụ thể hóa ở nhiều luật chuyên ngành sẽ ban hành sau và không biết chờ đến khi nào. Ví dụ điển hình là các ưu đãi ở Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có những ưu đãi rất có tác dụng như về thuế, về đất đai, về tín dụng, nhưng đến nay sau ba năm cũng chưa được ban hành.

Để giải quyết vấn đề này cũng như những quy định xử lý về các ưu đãi ở các dự án luật khác, đề nghị Quốc hội đổi mới tư duy, cải tiến cách làm luật theo hai cách . Cách thứ nhất cần quy định rõ thời hạn Chính phủ trình Quốc hội xem xét, sửa đổi bổ sung các ưu đãi đầu tư, nhất là về thuế, về đất như quy định tại Điều 74 của dự thảo luật này và các dự án khác có quy định về ưu đãi dưới hình thức một luật bổ sung các ưu đãi đầu tư của các luật chuyên ngành hoặc Quốc hội ban hành một nghị quyết để ưu đãi đầu tư. Cách này bảo đảm kết quả đầu tư sẽ được ban hành kịp thời, có hiệu lực, đồng bộ, không phải chờ sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành khác.

Cách thứ hai là trong kế hoạch xây dựng luật, Quốc hội yêu cầu các dự án luật có quy định ưu đãi đầu tư liên quan đến các luật chuyên ngành khác mà không thể quy định ở dự thảo luật trình Quốc hội xem xét, chỉ cần trình Quốc hội dự thảo luật chính và kèm theo một dự thảo luật phụ bổ sung các ưu đãi đầu tư để xem xét quyết định ban hành cùng thời điểm. Theo hai cách trên, cách thứ hai có ưu điểm vượt trội hơn cách thứ nhất.

ĐBQH Đinh Văn Nhã (Phú Yên)
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang