.

Điểm tựa cho tăng trưởng

20:24 | 22/01/2017
LTS: Chính phủ đang dốc sức thúc đẩy tăng trưởng đạt 6,7% trong năm 2017 để nhằm nhiều mục đích cùng lúc như: Giảm tỷ trọng nợ nước ngoài, nợ Chính phủ trên GDP; giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP, bảo đảm an sinh xã hội, rút ngắn khoảng cách chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa Việt Nam với các nước. Đại biểu Nhân dân trao đổi với một số chuyên gia kinh tế về những “điểm tựa” để Việt Nam có thể tăng trưởng cao hơn trong năm 2017 và những năm sau.

TS. TRẦN VĂN, PHÓ CHỦ NHIỆM ỦY BAN TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH KHÓA XIII
Thoát khỏi tư duy nhiệm kỳ

Năm hết, Tết đến là lúc chúng ta có thể tĩnh tâm nhìn lại năm Bính Thân đầy biến động đã qua để hướng tới năm Đinh Dậu với niềm lạc quan về triển vọng phát triển của đất nước trên con đường “rượt đuổi” với chính mình, với các quốc gia láng giềng và cả với phần còn lại của thế giới để không bị tụt hậu xa hơn.

2017 là năm đầu thực hiện nhiều quyết sách quan trọng để phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết của QH về kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm 2016 - 2020 đặt mục tiêu thu ngân sách khoảng 6,8 triệu tỷ đồng, tăng 1,65 lần so với giai đoạn 2011 - 2015. Chiếm tỷ trọng lớn hơn cả trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn tới (dự kiến 9,1 - 9,7 triệu tỷ đồng) là vốn của khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân với 4,3 - 4,8 triệu tỷ đồng. Tiếp đó mới đến vốn đầu tư từ ngân sách, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nguồn vốn khác.

Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách, số liệu của 652 doanh nghiệp nhà nước (năm 2015) cho thấy, tổng tài sản của các doanh nghiệp là hơn 3 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 1,3 triệu tỷ đồng và tổng doanh thu đạt gần 1,6 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 161.431 tỷ đồng. Ngoài ra còn phải kể đến các loại tài sản công do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, kể cả kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, đất đai và các loại tài nguyên khác... Tất cả hợp thành những nguồn lực tài chính nhà nước to lớn để xây dựng đất nước trong những năm tới.

Chuyển sang cân đối trung hạn cả ở tầm quốc gia và các địa phương, lần đầu tiên chúng ta có thể thấy được bức tranh toàn cảnh về đầu tư công và cân đối ngân sách nhà nước trong 5 năm tới. Để phát huy tối đa hiệu lực nguồn vốn, hiệu quả đầu tư công, chúng ta sẽ tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính công, đầu tư công. Nhìn lại giai đoạn 2011 - 2015, việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội không đạt mục tiêu là một trong những nguyên nhân của tăng trưởng GDP giảm sút, không đạt kế hoạch. Đầu tư công vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vay nợ trong nước và nước ngoài do không cân đối được ngân sách. Việc thực hiện các quy định pháp luật về đầu tư công chưa nghiêm, tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, hiệu quả thấp vẫn chưa được khắc phục, nhiều dự án dở dang, thời gian thi công kéo dài, gây lãng phí, thất thoát nguồn lực tài chính nhà nước. Nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

Chúng ta chỉ có thể thu hút mạnh mẽ, tối đa các nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội cho nền kinh tế và hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 khi chứng tỏ được năng lực quản lý hiệu quả tài chính công, tiền thuế của người dân.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đánh giá hiệu lực, hiệu quả đầu tư theo kết quả đầu ra là phương pháp tối ưu trong theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư công và các chương trình, dự án cụ thể. Ngay cả nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2016 - 2020 cũng cần được đánh giá theo kết quả đầu ra. Bài toán “chi phí - hiệu quả” phải được giải quyết triệt để, rõ ràng, nhất là trong một thế giới “phẳng” của toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế. Không phải tự nhiên mà Singapore lại theo đuổi mô hình điều hành đất nước như một doanh nghiệp, khi họ luôn tìm đón trước cơ hội, liên tục đổi mới, tìm kiếm lợi nhuận trước mắt và lâu dài, thoát khỏi tư duy “nhiệm kỳ”. Hay như ở Thái Lan, khi còn làm Thủ tướng, ông Thaksin đã từng nói: “Một công ty cũng như một đất nước. Một đất nước cũng như một công ty. Không có gì khác nhau cả. Cách thức quản lý chúng cũng như nhau. Tất cả đều được quản lý bằng kinh tế học”. Ông coi cả nước Thái Lan như một công ty có quy mô lớn tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận để tồn tại và nuôi sống một lượng lớn lao động của mình và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Để bắt kịp ASEAN-4 trước khi tiến kịp với phần còn lại của thế giới phát triển, có thể chúng ta phải điều hành đất nước như vậy, sao cho dòng tiền của Nhà nước giữa “thu” và “chi” luôn luôn “dương” như mọi doanh nghiệp lành mạnh. Chúng ta lạc quan chờ đón năm Đinh Dậu với nhiều triển vọng tích cực là vậy.

TS. TRẦN DU LỊCH
Kiến tạo niềm tin

Yếu tố quyết định thành công của Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 là Chính phủ phải tạo được niềm tin cho doanh nghiệp trong đầu tư kinh doanh bằng những việc làm cụ thể chứ không phải chỉ bằng những nghị quyết.


“Không phải những ưu đãi về đất đai, vốn, hay tài nguyên mà chính môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch mới mang lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp”.

Nhìn lại 2016, năm mở đầu cho kế hoạch 2016 - 2020, có thể thấy những yếu tố tác động tích cực đến nền kinh tế. Đại hội lần thứ XII của Đảng đầu năm 2016 xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của đất nước trong quá trình phát triển. Tiếp đó phải kể đến sự chuyển đổi trong quan điểm, doanh nghiệp từ chỗ chỉ được làm những gì luật pháp cho phép thì giờ đây có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm. Đây là cuộc cải cách mang tính bước ngoặt để tạo môi trường kinh doanh phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiện kinh tế thị trường.

Những yếu tố này tạo tâm lý rất tốt cho doanh nghiệp. Trong 11 tháng năm 2016, đã có hơn 100 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Con số kỷ lục này cho thấy các nhà đầu tư, doanh nghiệp tin tưởng những cam kết cải cách của Nhà nước, Chính phủ và có quyết tâm khởi nghiệp, phát triển trong giai đoạn sắp tới. Đây chính là kết quả bước đầu của quá trình nhận thức đúng vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân từ Đại hội lần thứ XII của Đảng, cũng là kết quả của quá trình thay đổi quan điểm về quyền tự do kinh doanh của người dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014.

Tất nhiên, còn có khoảng cách giữa việc đăng ký thành lập và quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ trong số trên 700 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập năm 2015, chỉ có trên 500 nghìn doanh nghiệp hoạt động có khai thuế. Dẫu vậy, một tín hiệu tích cực khác của năm 2016 là hơn hai mươi nghìn doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động đã quay trở lại thị trường trong 11 tháng năm 2016. Do đó, có cơ sở để tin rằng, từ năm 2017 trở đi, khoảng cách kể trên sẽ thu hẹp lại.

Tư tưởng nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân tiếp tục được thể hiện trong Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 đã được QH thông qua tại Kỳ họp thứ 2. Nội dung số 1 của Kế hoạch này là: “Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước và thu hút hợp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Cũng phải nói thêm rằng, doanh nghiệp tư nhân trong nước hiện nay tương đối yếu so với doanh nghiệp FDI. Trong giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế Việt Nam xảy ra tình trạng tăng trưởng hai tốc độ: Tốc độ khá cao của doanh nghiệp FDI và tốc độ chậm, có vẻ mệt mỏi của doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

Có rất nhiều việc phải làm để đưa khu vực tư nhân lên ngang tầm với doanh nghiệp FDI. Trước tiên và quan trọng nhất là phải triển khai có hiệu quả Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Suốt thời gian kinh tế bất ổn vừa qua, doanh nghiệp nhỏ và vừa là đối tượng bị tổn thương nhiều nhất và đang cần được hỗ trợ. Tiếp theo, nên khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tư nhân trong nước đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều doanh nghiệp trước đây kinh doanh bất động sản, ô tô giờ quay sang đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao như những con sếu đầu đàn. Đây là tín hiệu tích cực để phát triển kinh tế tư nhân.

Quay trở lại việc hỗ trợ doanh nghiệp. Chính phủ ngay từ đầu nhiệm kỳ đã thể hiện quyết tâm cải cách môi trường kinh doanh. Nghị quyết 19 - 2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020 được ban hành cuối tháng 4, sau thời điểm Thủ tướng nhậm chức chưa đầy một tháng. Tại Nghị quyết này, các bộ, ngành được nêu tên và giao những vụ việc rất cụ thể để các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt tối thiểu bằng trung bình của nhóm nước ASEAN - 4.

Trong cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính chỉ là một vế. Vế khác quan trọng hơn là phải xây dựng bộ máy hành chính theo tư tưởng Nhà nước kiến tạo phát triển, xây dựng một nền công vụ liêm chính như Chính phủ đã nêu. Những việc này Chính phủ đang quyết tâm làm nhưng vẫn gặp khó khăn. Bộ máy hành chính cồng kềnh, trách nhiệm công vụ không rõ ràng tồn tại trong thời gian quá lâu là một trở ngại của cải cách. Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ công chức chưa có sự thay đổi tương xứng về chất lượng. Tuy nhiên có một tín hiệu lạc quan, đó là quyết tâm của người đứng đầu Chính phủ. Tiến trình rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương với thực tế cũng đang diễn ra tương đối tích cực. Trong năm 2017, Chính phủ phải nắm rõ những chính sách mình ban hành ra đã được triển khai thực hiện ra sao để có sự kiểm tra, giám sát và bảo đảm chúng thực sự đi vào cuộc sống.

Tựu chung lại, yếu tố quyết định sự thành công của Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có việc phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước, là Chính phủ phải tạo dựng được niềm tin cho doanh nghiệp trong đầu tư kinh doanh. Niềm tin ấy phải được vun đắp bằng những việc làm cụ thể của bộ máy hành chính với doanh nghiệp và người dân, bằng cách hiểu và áp dụng luật pháp một cách nhất quán, bằng sự công minh của pháp luật chứ không phải chỉ bằng các nghị quyết.

TS. PHAN MINH NGỌC
Hành động thực chất

Nguồn lực nào để hậu thuẫn cho tăng trưởng cao hơn trong năm 2017 và những năm sau nằm ở việc xác định làm thế nào để cải thiện môi trường đầu tư một cách hữu hiệu, thực chất, chứ không chỉ dừng lại ở những lời hô hào chung chung. Về vấn đề này, chỉ có Chính phủ mới biết rõ cần phải làm gì, bộ máy thực thi chính sách của mình cần ra sao.

Có lẽ khi hoạch định mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,7% trong năm 2017, các nhà làm chính sách đã kỳ vọng một trong những nguồn lực để hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng cao hơn này sẽ đến từ sự gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như thông lệ trong nhiều năm qua. Nhưng nay với diễn biến không thuận lợi của vốn FDI (tụt giảm cả về vốn đăng ký mới và tăng thêm), một vấn đề nghiêm túc được đặt ra là nguồn lực nào, ở đâu để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế?

Các nhà làm chính sách có thể lập luận rằng họ sẽ tăng cường các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, tạo ưu đãi để tiếp tục kêu gọi và thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn FDI hơn nữa. Nhưng thực tế là các biện pháp ưu đãi để hấp dẫn đầu tư sẽ chỉ còn là tiếp tục cắt giảm thuế, hạ thấp chỉ tiêu bảo vệ môi trường, hạ thấp các chi phí và giá thuê đất... Tất cả những biện pháp này đều không nên, không thể áp dụng một cách đại trà được nữa. Hạ thuế, phí sẽ trực tiếp làm giảm thu ngân sách trong bối cảnh thâm thủng ngân sách ngày càng trầm trọng, đi ngược lại chủ trương không thực thi những chính sách làm giảm thu ngân sách mà QH đã yêu cầu. Hạ thấp chỉ tiêu bảo vệ môi trường đương nhiên sẽ thu hút được thêm các dự án FDI đầu tư vào các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao nhưng đổi lại, đời sống của hàng vạn, hàng triệu người sẽ bị ảnh hưởng và thiệt hại tổng cộng còn lớn hơn nhiều lần so với đóng góp, nếu có, của các dự án FDI này cho nền kinh tế Việt Nam.

Vậy nên, một trong những biện pháp khả thi và có chi phí thấp là phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư theo hướng lành mạnh hóa, minh bạch hóa để nhà đầu tư cắt giảm được chi phí kinh doanh trá hình dưới dạng các khoản “lót tay”, hối lộ để được việc, từ đó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tính toán chính xác được các chi phí bỏ ra, lợi ích thu về và đưa ra được quyết định đầu tư cuối cùng. Các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư không còn mới mẻ. Chúng đã được xác định phải kiên quyết thực hiện suốt từ nhiều năm qua nhưng tình hình thực tế lại ít biến chuyển. Điều quan trọng là khâu thực hiện các biện pháp này đã gặp không ít khó khăn do sự chống đối, cản trở của nhiều đối tượng và nhóm lợi ích liên đới. Vậy chốt lại, để cải thiện môi trường đầu tư,  cần trả lời câu hỏi làm thế nào để, và đến bao giờ có thể chế áp được các cá nhân và nhóm lợi ích này?

Ngoài ra, từ vài năm nay, cụm từ “đổi mới mô hình tăng trưởng” cũng đã được nhắc đến nhiều, coi đó như một lời giải hữu hiệu cho bài toán tăng trưởng. “Đổi mới mô hình tăng trưởng” nói nôm na là tăng trưởng bớt dựa vào các ngành gia công, tạo giá trị gia tăng thấp cho nền kinh tế, không đóng góp tích cực cho cải thiện tiến bộ khoa học - công nghệ. Tuy vậy, ngay chuyện ngành nào là ngành gia công, tạo giá trị gia tăng thấp, không đóng góp tích cực cho cải thiện tiến bộ khoa học - công nghệ cũng đã không được làm rõ một cách chính thức để rồi có biện pháp “thoát ly” dần những ngành ấy. Hơn nữa, người ta dường như quên rằng chính những ngành gia công, tạo giá trị gia tăng thấp, ví dụ như lắp ráp hay may mặc lại tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập nhất, góp phần quan trọng trong việc ổn định an sinh xã hội. Nếu cứ tập trung đầu tư vào những ngành phi gia công (tức công nghệ cao), có giá trị gia tăng cao, hàm lượng khoa học kỹ thuật lớn… thì lượng lao động dôi dư lớn bị “thải loại” từ những ngành gia công, có giá trị gia tăng thấp, lên đến nhiều triệu người trong lực lượng lao động cả nước sẽ đi về đâu? Ai sẽ giải quyết những gánh nặng tài chính cho họ nếu không phải là ngân sách nhà nước đang thâm thủng mạnh?

Một hướng đi chính sách khác để huy động được nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng cao hơn trong năm tới là thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trong nước để bù đắp, nếu có, sự sụt giảm của nguồn vốn FDI. Bởi hàng năm, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp tới 40% cho GDP cả nước, ngang với khu vực kinh tế nhà nước, và cao hơn gần gấp đôi khu vực doanh nghiệp FDI.

Để thúc đẩy kinh tế tư nhân, trước hết cần xóa bỏ những phân biệt đối xử giữa khu vực này với khu vực kinh tế nhà nước và FDI, trong tiếp cận vốn vay ngân hàng hay trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Đương nhiên, vấn đề này cũng đã được đặt ra từ nhiều năm nay nhưng kết cục thì  hầu như vẫn không thay đổi. Như vậy, vấn đề nằm ở khâu thực hiện, chứ không phải ở khâu đề ra giải pháp. Do đó, nếu không có chuyển biến đáng kể trong thực thi chính sách trên thực tế thì khu vực kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục tăng trưởng “lẹt đẹt” và vì thế GDP sẽ khó bề “cất cánh” để về đích 6,7%.

Tóm lại, câu trả lời nguồn lực nào để hậu thuẫn cho tăng trưởng cao hơn trong năm 2017 và những năm sau nằm ở việc xác định làm thế nào để đổi mới mô hình tăng trưởng và cải thiện môi trường đầu tư một cách hữu hiệu, thực chất, chứ không chỉ dừng lại ở những lời hô hào chung chung. Chính phủ cần có câu trả lời ngay trong năm nay để mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới thành hiện thực.

Quay trở lại đầu trang