CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC TƯ THỤC

Vai trò của chính phủ

10:05 | 12/08/2018
Điều cần nhấn mạnh là chính phủ có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển/suy giảm hệ thống PHE, thể hiện ở chế độ chính trị và định chế (D.C. Levy 2013).

Về chế độ chính trị,, giai đoạn lịch sử lớn nhất của việc gia tăng hoặc suy giảm PHE có liên quan đến hệ thống các nước XHCN bao gồm Liên Xô, các nước Đông Âu hình thành sau Thế chiến thứ Hai và sau đó là Trung Quốc, Việt Nam và Cuba. 11 cơ sở đại học tư ở miền Nam Việt Nam (theo D.C. Levy) đã được quốc hữu hóa năm 1975. Những đất nước khác phải kể đến Pakistan dưới thời Ali Bhutto năm 1972 và Thổ Nhĩ Kỳ những năm 1970. Sự gia tăng/suy giảm của PHE chỉ đơn thuần là do nhà nước ủng hộ/không ủng hộ khu vực tư nhân. Có khá nhiều ví dụ trên thế giới minh họa nhận xét này.

Về định chế (regulation), khi mà không có sự thay đổi về chế độ chính trị hoặc thậm chí thay đổi trong chính quyền trung ương, thì các định chế thường có ý nghĩa trong việc ngăn cản hoặc thúc đẩy tăng trưởng PHE. Khi PHE tăng trưởng lớn sẽ gây sự chú ý và các định chế mới sẽ được hình thành. Điều quan trọng là sức ép về các yêu cầu cứng lên PHE, thường được định hình dựa trên tiêu chuẩn của khu vực công, như trong bảo đảm chất lượng (QA) của Việt Nam hiện nay, hoặc thậm chí là ở một số nơi khu vực tư nhân chịu các đòi hỏi còn khó khăn hơn. Điều này có thể dẫn đến “đẳng cấu cưỡng chế” (Levy 2006), nếu PHE đáp ứng các yêu cầu quy định, PHE có thể mất tính khác biệt; nếu nó không đáp ứng yêu cầu, nó có thể mất thị phần.

Các định chế đáp ứng với sự tăng trưởng nhanh PHE thường là “các định chế kìm hãm (delayed)”. Việc PHE xuất hiện bùng nổ thường đặt các chính phủ và HE công vào tình thế bị bất ngờ, khung pháp lý thường là vụn vặt, đối phó. Các trường đôi khi sinh sôi nảy nở một cách tùy tiện. Lúc đầu dường như đã mang lại lợi ích trong việc mở rộng tiếp cận HE cho người dân mà chính phủ không buộc phải tài trợ cho họ, và các trường đại học công không phải siêu mở rộng để đáp ứng nhu cầu gia tăng quy mô tuyển sinh mới. Nhưng sau đó cái giá của sự tăng trưởng “nóng” trở nên rõ ràng. Chất lượng thấp, đôi khi không thể chấp nhận được, sự giám sát, nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm cũng như tính minh bạch yếu. Vấn đề gay gắt đến nỗi nó không chỉ ảnh hưởng đến các trường mà còn ảnh hưởng đến chính phủ. Chính phủ sau đó hành động. Các tiêu chuẩn cấp phép mở trường, mở ngành xuất hiện hoặc trở nên khó khăn hơn, QA được đưa vào và các luật được ban hành. Định chế kìm hãm có thể dẫn đến nhiều vụ đóng cửa hoặc sáp nhập các trường, như ở Romania và El Salvador.

Định chế công áp dụng cho PHE mang lại rủi ro đáng kể cho quy mô PHE, mặc dù nó cũng có thể giúp bảo đảm một phần cho PHE bằng cách củng cố tính hợp pháp của nó và do đó hỗ trợ cho việc tuyển sinh. Ngược lại, trợ cấp công cho PHE, cho dù trực tiếp cấp cho các trường hoặc gián tiếp qua hỗ trợ sinh viên, đều có thể thuận lợi cho việc gia tăng quy mô PHE. Học phí công thấp cũng có tác động rõ rệt chống lại việc tăng quy mô PHE.

Quay trở lại đầu trang