CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC TƯ THỤC

Bản chất không đồng nhất

10:08 | 12/08/2018
Với tất cả các nước đều không có loại hình (vai trò, động cơ, quyền sở hữu và quản lý) hoàn hảo nào cho PHE, phù hợp cho tất cả. Tuy rất đa dạng nhưng loại hình chi phối của PHE có thể gom lại thành các trường tinh hoa/bán tinh hoa, tôn giáo/văn hóa và phi tinh hoa/hấp phụ nhu cầu học tập, trong đó các loại hình bán tinh hoa và phi tinh hoa/hấp phụ nhu cầu học tập đang hiện hữu ở nước ta.

Trong bối cảnh cân bằng cung - cầu đang dịch chuyển, các trường đại học công lập được “cứu” bằng cơ chế tự chủ, sự cạnh tranh đối với đại học tư thục (PHE) gia tăng. Nguy cơ thấy rõ là các trường tư sẽ tiếp tục suy giảm khả năng tuyển sinh, phải đóng cửa, nhượng bán hoặc sáp nhập nếu Chính phủ không có những chính sách thích hợp để ngăn chặn sự suy giảm và thúc đẩy PHE phát triển. Những vấn đề tương tự đã xảy ra ở một số nước. Họ giải quyết bài toán này như thế nào? Bài học nào có thể rút ra cho nước ta?

 Đặng Ứng Vận - Trường Đại học Hòa Bình

Sự kết hợp của giới tinh hoa học thuật với tư nhân tập trung ở Hoa Kỳ. Phần lớn các trường PHE “bán tinh hoa” có thể cạnh tranh một cách ấn tượng với lớp thứ hai của các trường công tốt trong nước. Khu vực tăng trưởng lớn nhất trong PHE là các trường không tinh hoa chủ yếu là “hấp phụ nhu cầu” học sinh tiếp cận giáo dục đại học (HE) tăng mạnh, vượt quá việc cung cấp chỗ học ở các trường công (và PHE bán tinh hoa).

Phân khúc không tinh hoa đôi khi bị lên án bằng các ngôn từ tồi tệ. Tuy nhiên, đối với việc hoạch định chính sách cần nhận ra hai tiểu phân khúc của loại hình này. Một thực sự là có vấn đề về chất lượng học tập, về sự nghiêm túc và nỗ lực. Một loại nghiêm túc, thường được quản lý tốt, định hướng nghề nghiệp và các phương thức mới nhắm đến các nhóm sinh viên phi truyền thống và đáp ứng các nhu cầu đang hình thành cho việc phát triển lực lượng lao động mới. Cả về số lượng và chất lượng, PHE không tinh hoa có thể tạo ấn tượng, thậm chí thể hiện một số đặc điểm giống như trường bán tinh hoa.

Các trường vì lợi nhuận được xem như một loại hình đan xen. PHE tinh hoa học thuật không vì lợi nhuận thì chỉ có ở Hoa Kỳ. Một số trường không vì lợi nhuận có đặc tính bán tinh hoa hoặc ít nhất là có các thuộc tính của những trường không tinh hoa nghiêm túc. Mặt khác, có các trường phi lợi nhuận hợp pháp nhưng vì lợi nhuận về chức năng. Đôi khi luật không rõ ràng về trường nào là phi lợi nhuận hoặc vì lợi nhuận (Đông và Trung Âu là một minh họa, mặc dầu ngày nay đã có ít nhầm lẫn hơn so với những năm đầu của PHE), thậm chí chuyên gia trong một quốc gia không luôn đồng ý về việc liệu lợi nhuận có được cho phép hay không. Nếu giới hạn vào các tổ chức vì lợi nhuận hợp pháp thì phân khúc vì lợi nhuận sẽ nhỏ nhưng nó đang tăng trưởng dường như là ở tất cả các nước đang phát triển.

Trên thực tế, quyền sở hữu của các trường lợi nhuận khá đa dạng: Gia đình điều hành, sở hữu độc quyền, sở hữu của doanh nghiệp (đôi khi là “trường đại học công ty”) và doanh nghiệp công. Nhìn chung, động cơ thay đổi theo hình thức sở hữu, nhưng một yếu tố bất biến là việc theo đuổi lợi nhuận, dù có hay không kết hợp với những động cơ khác ít được quan tâm hơn. Các trường vì lợi nhuận dựa trên học phí và hiếm khi nhận được bất kỳ hỗ trợ công nào. Ngoại lệ đáng chú ý là Hoa Kỳ, sinh viên các trường vì lợi nhuận đã được kiểm định và công nhận có đủ điều kiện cho các khoản vay sinh viên của chính phủ. Phân khúc này chủ yếu hoạt động dựa trên mô hình kinh doanh liên kết với quyền lực. Quyền lực tập trung vào Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành, thay vì một senate của các giảng viên. Vai trò của chính phủ bị hạn chế. Các cuộc tranh luận công tư và phản đối thường rất gay gắt khi nói đến loại hình vì lợi nhuận. Ở Hoa Kỳ ít gay gắt hơn nhưng chính quyền các bang cũng như vô số cơ quan bảo đảm chất lượng (QA) rất khác nhau về mức độ thù địch hoặc thân thiện với loại hình này.

Nhìn chung, có thể nói “khu vực tư, chủ yếu vẫn là phân khúc hấp phụ nhu cầu, là nơi người học chịu chi phí với quan điểm coi HE như một sự đầu tư cá nhân có tỷ lệ hoàn vốn tương xứng” (James 1987, dẫn theo P.G. Altbach và D.C. Levy (2005)) và rõ ràng là có sự khác biệt về chức năng và nói rộng hơn về triết lý, về động cơ hoạt động giữa các trường đại học công và PHE và các loại hình PHE với nhau.

Ngẫu lực phát triển

Lý do chủ yếu của sự phát triển PHE (P.G. Altbach và D.C. Levy, 2005) chính là quá trình đại chúng hóa, một vấn đề mang tính toàn cầu đã đặt ra những đòi hỏi chưa từng có đối với hệ thống hàn lâm và các chính phủ. HE đã nhanh chóng chuyển từ một hệ thống dành cho tầng lớp tinh hoa sang hệ thống đại chúng đáp ứng cho số đông. Ngay cả ở những nước đang phát triển như Trung Quốc cũng phải chịu một sức ép nhu cầu nhập học gia tăng. Với tỷ lệ nhập học trong độ tuổi chỉ đạt tới 20% thì số sinh viên đại học của Trung Quốc cũng đã vượt Mỹ.

Yếu tố thứ hai của việc mở rộng PHE là sự thay đổi quan niệm về đầu tư tài chính cho HE. Lâu nay HE được hiểu là một thứ hàng hóa công được xã hội cung cấp. Ở chừng mực nào đó, quan niệm này đã được thay bằng việc giáo dục sau trung học là hàng hóa tư với lợi ích chủ yếu dồn cho các cá nhân. Từ đó dẫn đến suy nghĩ cho rằng sinh viên và gia đình phải trả tiền cho việc học đại học của họ. Yếu tố thứ hai này có một biến thể ở Việt Nam đó là nhà nước không đủ nguồn lực cho HE, việc huy động nguồn lực từ xã hội (xã hội hóa) trở thành điều tất yếu.

Hai lực lượng xã hội này: Nhu cầu tiếp cận và sự không mong muốn hoặc không có khả năng của chính phủ chi trả cho chi phí gia tăng của HE, tạo nên ngẫu lực thúc đẩy PHE phát triển.

Quay trở lại đầu trang