Góc nhìn

Trách nhiệm giảm nghèo

07:58 | 30/12/2018
Với 6 triệu người Việt Nam thoát nghèo, chỉ còn 7% hộ nghèo trên tổng dân số, đã giúp Việt Nam đứng thứ 57 trong tổng số 193 nước thành viên của Liên Hợp Quốc về chỉ số phát triển bền vững năm 2018, tăng 9 bậc so với xếp hạng năm 2017. Đó là thông tin được đưa ra trong Báo cáo về nghèo đa chiều ở Việt Nam, do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vừa công bố. Kết quả đó được Quyền Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Caitlin Wiesen ca ngợi là “thành công ở tầm thế giới”.

Báo cáo khẳng định những tiến bộ ấn tượng của Việt Nam trong việc thực hiện xóa nghèo: tỷ lệ nghèo cùng cực giảm mạnh từ 49,2% (năm 1992) xuống còn 2% (năm 2016). Trong số 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (17 SDG) mà Việt Nam cam kết đạt được vào năm 2030, SDG1 về xóa nghèo dưới mọi hình thức, ở mọi nơi có khả năng đạt được cao nhất. Điều này đưa Việt Nam trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong việc áp dụng cách tiếp cận nghèo đa chiều trong quá trình thực hiện SDG1.

Thành công đó một phần nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, luôn xác định rõ mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm tính thường xuyên và kiên trì đối với chính sách an sinh. Vậy nhưng, vẫn còn tình trạng tái nghèo hoặc các hộ dễ bị tổn thương rơi vào nghèo. Nghèo đói vẫn tồn tại ở nhiều khu vực, đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Tỷ lệ nghèo đa chiều ở vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cao gấp 2 lần so với mức trung bình của cả nước. Trong khi tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2016 của dân tộc Kinh là 6.4% thì tỷ lệ này ở một số nhóm dân tộc thiểu số cao hơn nhiều, đơn cử như tỷ lệ của dân tộc Mông là 76,2%, Dao 37,5%, và Khmer 23,7%. 

Trước con số đáng chú ý này, không ít người đặt câu hỏi, các chính sách hỗ trợ đã và đang đứng ở đâu, tác động như thế nào tới cuộc sống người dân và nguồn vốn hỗ trợ có “đi tới nơi, về tới chốn”? Bởi có một hạn chế đã được chỉ ra là chính sách giảm nghèo vẫn chưa thực sự trúng và đúng với đặc thù điều kiện khu vực miền núi. Những chính sách như hỗ trợ tiền điện, tiền dầu, muối, gạo cứu đói và tiền ăn Tết, hầu hết các hộ gia đình chi dùng và hết nhanh chóng. Còn các chính sách đầu tư tạo sinh kế dường như vẫn nằm trong vòng nghịch lý “cái cần không có, cái có không cần” hoặc không hiệu quả. Thực tế cũng chỉ ra rằng, phân bổ dàn trải theo hàng ngang các chính sách xóa đói giảm nghèo cộng thêm cơ chế chính sách rập khuôn với tất cả địa phương đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo ra bất cập nhiều hơn hiệu quả.

Làm sao để “đồng tiền, bát gạo” của Nhà nước đến được đúng đối tượng, được sử dụng “ra tấm, ra món” còn rất nhiều việc cần làm. Lãnh đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội từng khẳng định rằng, mặc dù chính sách hỗ trợ của nhà nước là cần thiết và quan trọng nhưng muốn công tác xóa nghèo đạt được hiệu quả thì người nghèo phải nhận thức rõ mình chính là chủ thể của tiến trình giảm nghèo, có trách nhiệm hơn nữa trong vươn lên thoát nghèo. Bởi thực tế không ít hộ nghèo vẫn còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; tâm lý chính sách ban phát và cách thức thụ động nhận hỗ trợ đã khiến chương trình giảm nghèo ở không ít nơi chệch hướng ngay từ điểm xuất phát. Có thể nói, câu chuyện hỗ trợ người nghèo “trao cần câu” hay “con cá” không phải là vấn đề mấu chốt, vì nếu người nghèo không biết cách biến một “con cá” thành nhiều “con cá” hay dùng “cần câu” để câu được cá và làm thế nào tạo ra được nguồn vốn từ đó, thì nghèo vẫn hoàn nghèo.

Tại kỳ họp vừa qua, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua nghị quyết điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, trong đó bố trí 1.766 tỷ đồng vốn còn lại của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững để phân bổ theo quy định và bổ sung 648 nghìn tỷ đồng từ nguồn dự phòng chung của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 cho Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững. Điều đó đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nước đối với công tác giảm nghèo.

Để “không ai bị bỏ lại phía sau”, trách nhiệm đặt ra trong thời gian tới đối với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương là phải biết khuyến khích tinh thần tự lực, khát vọng đổi thay số phận của người nghèo, để những đồng vốn do Nhà nước hỗ trợ, những công trình dự án mà Nhà nước đầu tư thực sự trở thành bệ đỡ, thành nguồn lực hữu ích giúp người nghèo vượt qua khó khăn, tạo dựng cuộc sống ấm no cho gia đình. Có như thế, mới có thể hoàn thành mục tiêu xóa nghèo bền vững mà nghị quyết của Quốc hội đã đề ra.

Đỗ Quyên
Quay trở lại đầu trang