CHÍNH TRỊ
Cập nhật 18:01 | 21/09/2019 (GMT+7)
.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành Phiên chất vấn và trả lời chất vấn

09:46 | 15/08/2019
Sáng nay, 15.8, tiếp tục Phiên họp thứ 36 của UBTVQH, UBTVQH sẽ dành trọn một ngày tổ chức phiên chất vấn, trả lời chất vấn các Bộ trưởng, trưởng ngành về các nội dung liên quan đến thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018.

Các Bộ trưởng, trưởng ngành trả lời chất vấn gồm: Kế hoạch và Đầu tư; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Thông tin và Truyền thông; Tư pháp; Công an; Xây dựng; Khoa học và Công nghệ; Lao động, Thương binh và Xã hội; Tài chính; Công Thương; Giao thông vận tải; Ủy ban Dân tộc; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tổng Kiểm toán nhà nước.

Báo ĐBND tường thuật Phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Trân trọng mời độc giả theo dõi.

Hạn chế trong quản lý, sử dụng vốn ODA chưa chuyển biến mạnh mẽ 

Trình bày Báo cáo tổng hợp nội dung thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH về việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018, Tổng Thư ký QH Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, tính từ đầu nhiệm kỳ QH Khóa XIV đến hết năm 2018, UBTVQH đã ban hành 4 nghị quyết về giám sát chuyên đề và 4 thông báo kết luận về chất vấn. 

Liên quan đến việc thực hiện các nghị quyết của UBTVQH về giám sát chuyên đề, cụ thể là Nghị quyết số 297/NQ-UBTVQH14 về nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2015-2020, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo, Tổng thư ký QH nêu rõ, hành lang pháp lý về KHCN và đổi mới sáng tạo ngày càng được hoàn thiện. Kinh phí ngoài ngân sách đầu tư cho hoạt động KHCN có xu hướng tăng. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển nhanh. Hạ tầng kỹ thuật, hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị nghiên cứu được nâng cấp, hiện đại hóa. Một số trường đại học, viện nghiên cứu theo mô hình tiên tiến, hiện đại được hình thành. Việc triển khai các nhiệm vụ KHCN ngày càng minh bạch; thị trường công nghệ bước đầu phát huy vai trò cầu nối, gắn kết hoạt động KHCN với sản xuất, kinh doanh. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo đã dần phát huy tác dụng; hàm lượng KHCN trong các sản phẩm ngành công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo tăng; nhiều sản phẩm, công nghệ mới được tạo ra; số lượng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả ngày một tăng, năng lực thiết kế, chế tạo và sản xuất được cải thiện. 


Tổng Thư ký QH Nguyễn Hạnh Phúc Trình bày Báo cáo tổng hợp nội dung thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH về việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018
Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, Tổng thư ký QH chỉ rõ, sự liên kết giữa các tổ chức KHCN trong các ngành, lĩnh vực từ trung ương đến địa phương, giữa các tổ chức nghiên cứu, phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ. Hoạt động của một số tổ chức và chất lượng đội ngũ cán bộ KHCN chưa cao; thiếu cơ chế để xây dựng các tập thể khoa học mạnh, các viện nghiên cứu, trường đại học đẳng cấp quốc tế; cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị nghiên cứu còn thiếu, chưa đồng bộ. Hoạt động mua, bán công nghệ và chuyển giao kết quả nghiên cứu còn hạn chế. Năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp không cao. Nhiều nhà máy cơ khí vẫn sử dụng các máy móc lạc hậu. Việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI còn hạn chế. 

Ngành cơ khí vẫn thiếu đồng bộ, tỷ lệ nội địa hóa thấp, phần lớn các vật tư nguyên liệu cho sản xuất cơ khí đều nhập khẩu. Năng lực về quản trị, điều hành của các doanh nghiệp cơ khí còn yếu. Nhân lực chất lượng cao, giàu kinh nghiệm hầu hết ở độ tuổi cao; chưa tạo được môi trường hấp dẫn thu hút đội ngũ tri thức, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, hợp tác; đội ngũ công nhân chưa được đào tạo bài bản.

Liên quan đến Nghị quyết 437/NQ-UBTVQH14 về một số nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), theo Tổng thư ký QH, nhiều văn bản liên quan đến hình thức đối tác công tư được sửa đổi, ban hành. Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư đang được nghiên cứu và sẽ trình QH xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Tám. Việc lập quy hoạch ngành GTVT quy định của Luật Quy hoạch được Chính phủ chỉ đạo triển khai. Các Đề án tăng cường kết nối giao thông trong một số khu vực trọng điểm, lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu thông qua hình thức đấu thầu công khai được xây dựng. Quy định việc công khai, minh bạch các thông tin về dự án và các giải pháp xử lý nhằm thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước được ban hành. Các dự án hoàn thành được kiểm toán và khẩn trương quyết toán để xác định phương án tài chính và thời gian thu phí chính thức. Khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư được tháo gỡ. Vị trí đặt trạm thu phí BOT được rà soát tổng thể và có các chính sách miễn, giảm giá cho các đối tượng chịu ảnh hưởng.

Song, kết quả kiểm điểm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân để xảy ra khuyết điểm, vi phạm chưa được tổng hợp, báo cáo QH, UBTVQH; chưa làm rõ tình hình thực hiện các kết luận của các đoàn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhà nước; chưa làm rõ tình hình thực hiện của các dự án do địa phương quản lý; chưa ban hành quy định về tiêu chí để đánh giá năng lực tài chính của nhà đầu tư, mức vốn chủ sở hữu. Việc sửa đổi quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng vẫn còn chậm. Việc quyết toán các dự án đã hoàn thành vẫn còn một số vướng mắc; những bất cập tại một số trạm thu phí BOT vẫn chưa được xử lý dứt điểm; việc thất thoát doanh thu tại các trạm thu phí vẫn còn tồn tại; việc triển khai thu phí tự động không dừng trên tất cả các trạm còn chậm; tình trạng mất an toàn, an ninh, trật tự tại một số địa phương có dự án đi qua vẫn diễn ra. Một số các công trình giao thông BOT chất lượng còn thấp, chưa được bảo trì, sửa chữa kịp thời khi xuống cấp.  

Về Nghị quyết số 459/NQ-UBTVQH14 về tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với cá nhân, tổ chức khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh ngày càng được hoàn thiện. Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và thủy sản bước đầu đã phát huy hiệu quả. Đội ngũ tàu khai thác hải sản đã phát triển nhanh cả về số lượng, công suất, chủng loại và từng bước được hiện đại hóa. 

Sự phối hợp giữa các lực lượng trên biển được thực hiện đồng bộ; tàu thuyền khi xuất, nhập bến được kiểm soát chặt chẽ; tàu cá và ngư dân Việt Nam khi gặp sự cố, bị nước ngoài bắt giữ trái phép được hỗ trợ kịp thời; các tàu cá nước ngoài xâm phạm, khai thác hải sản trái phép trên vùng biển Việt Nam bị ngăn chặn và xử lý nghiêm. Thế trận quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc được xây dựng từng bước vững chắc. Công tác hợp tác quốc tế được tăng cường và chú trọng. 

Tuy nhiên, việc ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm, chưa đồng bộ. Kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển, đảo vẫn còn hạn chế; hệ thống cảng biển manh mún, dàn trải, hiệu quả thấp. Các loại tàu thuyền, trang thiết bị còn lạc hậu, chưa đồng bộ; việc đóng tàu cho ngư dân không bảo đảm chất lượng, gây tốn kém, lãng phí. Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên biển và ven biển ở một số địa phương còn lãng phí, kém hiệu quả, nguồn thủy sản bị đánh bắt cạn kiệt, hệ sinh thái biển bị suy thoái; việc khai thác chưa gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản. Tình trạng ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhựa đã trở thành vấn đề cấp bách. Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều bất cập. Hiệu quả việc dân sự hóa trên biển, đảo chưa cao, chưa thu hút được người dân sinh sống, làm ăn lâu dài trên đảo. Dịch vụ hoạt động nghề cá chưa tốt, công tác đào tạo, huấn luyện kỹ năng hoạt động trên biển cho ngư dân còn hạn chế. Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn gặp nhiều khó khăn; chưa có chính sách hiệu quả thu hút nguồn lực xã hội tổ chức lại sản xuất theo mô hình liên kết chuỗi giá trị.

Với Nghị quyết số 582/NQ-UBTVQH14 về một số nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài, Tổng thư ký QH cho biết, Luật Đầu tư công đã được sửa đổi và định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn 2021 - 2025 được ban hành. Việc huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp và mức độ rủi ro hợp lý được thực hiện cơ bản là tốt. Mức dư nợ công thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 - 2020; quy mô, danh mục nợ Chính phủ được kiểm soát. Đã trình QH cho phép tăng tổng mức vốn nước ngoài để bố trí vốn cho các dự án được ký kết hiệp định nhưng chưa có trong danh mục Kế hoạch đầu tư công trung hạn. 

Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài chưa có chuyển biến mạnh mẽ; vẫn tồn tại những dự án sử dụng vốn vay ODA chưa hiệu quả, từ khâu huy động (đàm phán hiệp định, điều kiện vay), đến việc thực hiện, sử dụng vốn. Công tác phân bổ, giao kế hoạch cho từng dự án cụ thể chưa được thực hiện kịp thời. Mức giải ngân vốn ODA, vốn vay ưu đãi cấp phát từ ngân sách trung ương rất thấp.

Tại Phiên chất vấn, Tổng thư ký QH Nguyễn Hạnh Phúc cũng nêu rõ những nhận định, đánh giá cụ thể về việc thực hiện các kết luận của UBTVQH về chất vấn đối với lĩnh vực LĐ-TB và XH; Thông tin và Truyền thông; Xây dựng; lĩnh vực thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp; KHCN; Dân tộc; lĩnh vực thuộc trách nhiệm của Bộ Công an.

Đề xuất, xây dựng trình QH cho ý kiến sửa đổi, ban hành nhiều Luật

Tiếp đó, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, thay mặt Chính phủ, trình bày Báo cáo tóm tắt của Chính phủ tổng hợp tình hình thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về chất vấn và giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018.


Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng trình bày Báo cáo tóm tắt của Chính phủ tổng hợp tình hình thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về chất vấn và giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018.
Ảnh: Quang Khánh

Thực hiện Chương trình công tác năm 2019 và Kế hoạch số 377/KH-UBTVQH14 ngày 8.3.2019 của UBTVQH, Chính phủ đã gửi 10 báo cáo chuyên đề và 1 Báo cáo tổng hợp về việc thực hiện 4 nghị quyết và 4 kết luận của UBTVQH về chất vấn và giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018 trên các lĩnh vực: khoa học và công nghệ (KHCN); giao thông vận tải (GTVT); nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN-PTNT); quản lý, sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài; lao động - thương binh và xã hội (LĐ-TB và XH); thông tin và truyền thông; xây dựng, đô thị; xây dựng pháp luật (thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp); công tác dân tộc; an ninh trật tự (thuộc trách nhiệm của Bộ Công an).

Cụ thể, với lĩnh vực GTVT, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP cho biết, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 83/NQ-CP ngày 26.6.2018 triển khai thực hiện Nghị quyết này. Đến nay các nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo yêu cầu của Nghị quyết đã được Chính phủ triển khai thực hiện đạt kết quả: rà soát các quy định, chính sách để có đề xuất, xây dựng trình QH cho ý kiến về sửa đổi, ban hành các Luật (Luật Đầu tư theo hình thức PPP, Luật Đất đai, Luật Đầu tư...), trong đó có việc ban hành theo thẩm quyền các Nghị định, Thông tư về đầu tư theo hình thức đối tác công tư với một số nội dung quy định mới để khắc phục tối đa các tồn tại, hạn chế thời gian qua, trong đó có quy định về tiêu chí lựa chọn dự án để đầu tư theo hình thức đối tác công tư; quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho Nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT. Chính phủ đã yêu cầu Bộ GTVT và các địa phương rà soát mức thu phí để điều chỉnh cho phù hợp; đồng thời đẩy nhanh tiến độ triển khai thu phí tự động không dùng, bảo đảm cuối năm 2019 tất cả các trạm thu phí sẽ thu phí không dừng theo Nghị quyết của QH. Kiên quyết không đầu tư các dự án cải tạo, nâng cấp các tuyến đường độc đạo hiện hữu theo hình thức hợp đồng BOT để đảm bảo quyền lựa chọn cho người dân.

Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo tháo gỡ các khó khăn, vương mắc trong thực hiện các công trình giao thông trọng điểm như: Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn, Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ. Chỉ đạo các bộ, ngành liên quan thực hiện đồng bộ các giải pháp, đa dạng hóa hình thức huy động vốn, thúc đẩy tiến độ các Đề án, dự án; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các công trình giao thông đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đã và đang triển khai. Thực hiện nghiêm các kết luận của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán, hầu hết các dự án đều có giá trị quyết toán thấp hơn giá trị tổng mức đầu tư ban đầu. Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng sớm có giải pháp xử lý phù hợp để giải quyết khó khăn đối với một số dự án có sụt giảm doanh thu so với phương án tài chính đã phê duyệt.

Tuy nhiên, hệ thống quy định pháp luật và thực tế triển khai còn một số tồn tại, hạn chế. Chi phí đầu tư xây dựng được lập chưa thực sự đáp ứng được nguyên tắc tính đúng, tính đủ và phù hợp với thị trường và thông lệ quốc tế. Hệ thống định mức, đơn giá chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới khoa học công nghệ. Thiếu thông tin đầy đủ về định mức và giá xây dựng theo cơ chế thị trường; nhiều dự án đã hoàn thành nhưng thu phí không đủ (do giảm phí, chưa tăng phí theo đúng lộ trình trong Hợp đồng), phá vỡ mô hình tài chính của dự án gây khó khăn cho chủ đầu tư và các bên tài trợ vốn). Một số vướng mắc chưa được sửa đổi kịp thời; đến nay có rất ít dự án BOT mới được triển khai… 

Thời gian tới, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP cho biết, Chính phủ tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành sớm khắc phục, giải quyết dứt điểm những tồn tại, hạn chế của các công trình giao thông đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đã và đang triển khai; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, trong đó trình QH thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư tại Kỳ họp thứ Tám tới. Chính phủ kiến nghị UBTVQH thường xuyên giám sát việc thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư; kịp thời cho ý kiến để giải quyết, xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Về lĩnh vực NN-PTNT, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng nêu rõ, ngay sau khi Liên minh châu Âu (EU) áp dụng biện pháp ‘thẻ vàng”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và UBND 28 tỉnh, thành phố ven biển thực hiện các biện pháp nhằm sớm gỡ bỏ “thẻ vàng”, nhất là tập trung vào các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC). Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về IUU. Đến nay, chúng ta đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận; trong đó đã hoàn thành xây dựng khung pháp lý để quản lý, phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế; ngăn chặn và chấm dứt hoàn toàn tình trạng tàu cá, ngư dân ta xâm phạm và khai thác hải sản trái phép ở vùng biển các nước quốc đảo Thái Bình Dương.

Thời gian tới, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, nhất là các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Nghiên cứu các hình thức khai thác, nuôi trồng thủy hải sản mới (nuôi biển), khai thác viễn dương, mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực để khai thác thủy hải sản. Tăng cường huy động nguồn lực từ các thành  phần kinh tế tham gia nghiên cứu khoa học, đổi mới, chuyển giao công nghệ trong khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản. Chính phủ kiến nghị QH, UBTVQH tiếp tục ưu tiên bố trí các nguồn lực để thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. 

Về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài, thực hiện Nghị quyết của UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường thu hút và quản lý chặt chẽ, sử dụng vốn vay nước ngoài hiệu quả phục vụ cho phát triển đất nước. Hệ thống quy định pháp luật được rà soát, bổ sung và hoàn thiện; trong đó đã ban hành các nghị quyết, quyết định về chỉ đạo, điều hành quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có tác động lan toả sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi. Đồng thời, Chính phủ cũng đã trình QH thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ Bảy; bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường sự chủ động và hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài gắn với trách nhiệm của các bộ, địa phương, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Kịp thời báo cáo để QH có Nghị quyết về điều chỉnh vốn nước ngoài trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020. Công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài đã đạt được các kết quả quan trọng; hiệu quả các chương trình, dự án đã được nâng cao, bảo đảm các chỉ tiêu nợ công mà QH giao; trong đó nợ Chính phủ đến cuối năm 2018 được kiểm soát ở mức 50% GDP, thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 - 2020 và giảm mạnh so với mức 52,7% vào năm 2016 và 51,7% vào năm 2017.

Tuy nhiên, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài vẫn còn một số tồn tại, hạn chế; quy định pháp luật còn bất cập; tỷ lệ giải ngân vốn vay nước ngoài còn thấp so với kế hoạch; một số dự án triển khai, giải ngân chậm, chưa hiệu quả...

Thời gian tới, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật; yêu cầu người đứng đầu các Bộ ngành, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp, tập trung xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các dự án, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao uy tín, vị thế đất nước.

Chủ tọa sẽ điều hành linh hoạt, bảo đảm hiệu quả cao nhất

Đúng 8h sáng nay, phát biểu khai mạc Phiên chất vấn và trả lời chất vấn, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ: Thực hiện quy định của Luật Hoạt động giám sát của QH và HĐND, hôm nay, UBTVQH sẽ tiến hành xem xét việc thực hiện 4 nghị quyết về giám sát chuyên đề và 4 kết luận về chất vấn của UBTVQH từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018. Đây là lần đầu tiên UBTVQH thực hiện việc giám sát lại đối với các nội dung đã được UBTVQH giám sát, chất vấn.


Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc Phiên chất vấn và trả lời chất vấn
Ảnh: Quang Khánh

Liên quan đến việc triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH, Chính phủ đã chuẩn bị 10 báo cáo, trong đó nêu khá chi tiết, cụ thể việc thực hiện đối với từng nội dung, lĩnh vực trong nghị quyết và kết luận. Trên cơ sở các báo cáo của Chính phủ, các cơ quan của QH đã dành thời gian để thẩm tra và có các đánh giá cụ thể về các nội dung mà Chính phủ đã thực hiện. Tổng Thư ký QH đã có báo cáo tổng hợp ý kiến thẩm tra về những nội dung này. Các báo cáo đã được gửi trước đến các ĐBQH để nghiên cứu trước khi phiên họp diễn ra.

Từ tình hình thực tế và qua những nhận định trong các báo cáo cho thấy, Chủ tịch QH cho biết, những nội dung trong nghị quyết, kết luận của UBTVQH đã được Chính phủ, các bộ, ngành triển khai nghiêm túc, mang lại những kết quả đáng kể, tạo sự chuyển biến trong nhiều lĩnh vực, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. “Điều đó thể hiện sự nỗ lực, trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trước Đảng, Nhà nước, trước cử tri  và Nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ của mình”, Chủ tịch QH nói.

Tuy nhiên, so với yêu cầu và thực tiễn, Chủ tịch QH cho rằng, vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục triển khai, nhiều nội dung cần phải tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thì mới có thể tạo chuyển biến tích cực. Những tồn tại, hạn chế, các đề xuất, kiến nghị đã được nêu trong các báo cáo của Chính phủ và các báo cáo thẩm tra sẽ là cơ sở để UBTVQH và các ĐBQH tiếp tục đặt câu hỏi chất vấn để làm rõ thêm các vấn đề.

Để phiên chất vấn đạt kết quả tốt, do thời lượng có hạn, chỉ diễn ra trong một ngày, Chủ tịch QH đề nghị các ĐBQH đặt câu hỏi ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề. Các thành viên Chính phủ cần trả lời thẳng thắn, đúng vấn đề được chất vấn, không nêu lại nội dung đã được nêu rõ trong báo cáo, đồng thời xác định rõ trách nhiệm, nêu rõ nguyên nhân và đưa ra các giải pháp để thực hiện trong thời gian tới.


Ảnh: Quang Khánh

“Với tinh thần đó, Chủ tọa sẽ điều hành theo hướng mỗi lượt chất vấn sẽ có từ 3 đến 5 đại biểu đặt câu hỏi với thời lượng như quy định, mỗi vị ĐBQH có 1 phút để hỏi; vấn đề thuộc trách nhiệm của lĩnh vực nào thì đồng chí Bộ trưởng thuộc lĩnh vực đó có trách nhiệm trực tiếp trả lời; người trả lời có tối đa 3 phút để trả lời chất vấn của mỗi ĐBQH. Nhưng trong điều hành, có đại biểu hỏi 1 phút nhưng 2 - 3 ý thì chủ tọa có thể linh động thời gian trả lời đại biểu để làm rõ thêm vấn đề; đại biểu được quyền tranh luận mỗi người không quá 2 lần và 1 lần tranh luận là 2 phút”, Chủ tịch QH nhấn mạnh. Căn cứ tình hình thực tế, “Chủ tọa sẽ điều hành linh hoạt để bảo đảm hiệu quả cao nhất của phiên chất vấn”.

“Trong quá trình chất vấn, các bộ trưởng, trưởng ngành có liên quan những vấn đề mà bộ trưởng, trưởng ngành trực tiếp trả lời thì cũng được mời để báo cáo làm rõ thêm, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ sẽ thay mặt Chính phủ phát biểu làm rõ thêm một số vấn đề liên quan thuộc trách nhiệm của Chính phủ và trực tiếp trả lời chất vấn của ĐBQH”, Chủ tịch QH lưu ý.

Với sự chuẩn bị chu đáo của các cơ quan, kinh nghiệm qua nhiều kỳ chất vấn của các ĐBQH và kinh nghiệm trả lời của các Bộ trưởng, nhất là tại Kỳ họp thứ Sáu vừa qua, Chủ tịch QH tin tưởng rằng: “Phiên chất vấn lần này tiếp tục diễn ra sôi nổi, với tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng được kỳ vọng của cử tri và Nhân dân cả nước”.

Anh Phương-Hà An
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang