XÃ HỘI
Cập nhật 22:04 | 19/09/2014 (GMT+7)
.

Công đoàn có mạnh thì mới có mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ

10:39 | 26/05/2012
Thảo luận về dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi), ĐBQH đã tập trụng vào một số vấn đề còn ý kiến khác nhau đó là địa vị pháp lý của công đoàn, quyền gia nhập hoạt động công đoàn của lao động là người nước ngoài, hệ thống tổ chức và tên gọi của công đoàn các cấp, các điều kiện bảo đảm cho cán bộ công đoàn và tài chính của công đoàn...

ĐBQH Hồ Thị Thủy (Vĩnh Phúc): Vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động là rất lớn

Một là về địa vị pháp lý của công đoàn, tôi thống nhất với Điều 1 của dự thảo Luật, điều này đã khẳng định được chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Đồng thời đã đảm bảo được tính nguyên tắc, tính chất của một tổ chức chính trị, xã hội.

Hai là quyền gia nhập vào hoạt động công đoàn của người lao động là người nước ngoài, tôi đồng ý theo phương án hai. Vì như vậy, vừa bảo đảm được yêu cầu thực tiễn và bảo đảm được quyền bình đẳng giữa người lao động là người Việt Nam và lao động là người nước ngoài, đồng thời bảo đảm được tính chặt chẽ trong việc thực hiện quyền của đoàn viên công đoàn là người nước ngoài khi tham gia tổ chức công đoàn.

Ba là về tài chính công đoàn, tôi nhất trí như Khoản 2 Điều 26 của dự thảo Luật là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đóng góp bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, để bảo đảm việc quản lý, sử dụng tài chính của công đoàn đúng quy định của pháp luật và bảo đảm tính tự chủ của hoạt động công đoàn, đồng thời để thống nhất với Khoản 1 Điều 27, tức là công đoàn thực hiện quản lý và sử dụng tài chính công đoàn theo quy định của pháp luật và của Tổng công đoàn Việt Nam. Theo tôi đề nghị nên bỏ nội dung "Chính phủ quy định chi tiết thực hiện khoản này sau khi thống nhất với Tổng công đoàn Việt Nam".

Bốn là Khoản 5 của Điều 22. Tôi đề nghị sửa lại là trao đổi, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp với tổ chức công đoàn. Vì doanh nghiệp không chỉ là cung cấp thông tin khi tổ chức công đoàn đề nghị mà phải có trách nhiệm cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác, trung thực. Việc làm đó không chỉ tốt cho người lao động mà còn tốt cho cả người sử dụng lao động, nhất là trong doanh nghiệp khi gặp khó khăn trong sản xuất thì cần được người lao động chia sẻ thông qua tổ chức công đoàn.

Cuối cùng là tại Kỳ họp này dự kiến thông qua hai dự án luật có liên quan mật thiết với nhau đó là Bộ luật Lao động (sửa đổi) và Luật Công đoàn (sửa đổi). Hai luật này cùng đồng hành để xây dựng một mối quan hệ lao động hài hòa và tiến bộ. Theo đó vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động là rất lớn. Có thể khẳng định rằng công đoàn có mạnh thì mới có mối quan hệ lao động hài hòa ổn định, tiến bộ. Tuy nhiên Luật Công đoàn (sửa đổi) chưa có những quy định, chế tài cụ thể, nhất là những bảo đảm hoạt động của công đoàn. Chính vì vậy, tôi e rằng hoạt động của công đoàn khó tránh khỏi hình thức và khó khắc phục được những hạn chế của Luật Công đoàn năm 1990 và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, tính khả thi của Luật Công đoàn cũng như ảnh hưởng đến tính khả thi của Bộ luật Lao động.
 
ĐBQH Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng): Hai chức năng chính là chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi của người lao động rất mờ nhạt…

 
Hệ thống tổ chức và tài chính công đoàn là hai nội dung chính, rất quan trọng, thể hiện địa vị pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện tốt chức năng của công đoàn.

Về hệ thống tổ chức và tên gọi của các cấp công đoàn quy định tại Điều 7, hiện nay, tổ chức bộ máy các cấp công đoàn còn nhiều tồn tại, nhiều cấp trung gian mang nặng tính hành chính cấp trên, cấp dưới, chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, chưa phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cấp trên và cấp trên trực tiếp, chưa xác định rõ địa vị pháp lý và vai trò của từng cấp công đoàn trong chỉ đạo cơ sở cũng như tổ chức để hoạt động liên quan đến người lao động. Tên gọi của các cấp công đoàn chưa bảo đảm nguyên tắc thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, chẳng hạn ở trung ương có Tổng Liên đoàn Lao động, cấp tỉnh có Liên đoàn Lao động tỉnh, cấp huyện có Công đoàn huyện nhưng tại cấp huyện lại có Công đoàn giáo dục huyện, Công đoàn cơ sở trường học là cấp thứ 5 dẫn đến chồng chéo trong chỉ đạo hoạt động. Tình trạng "cha chung" nên khi nảy sinh những vấn đề vướng mắc về quan hệ lao động công đoàn lại rất lúng túng khi đề ra các giải pháp để cùng các cơ quan nhà nước giải quyết kịp thời, đối với các cấp công đoàn, tổ chức theo ngành nghề cũng tương tự như vậy.

Muốn giải quyết tồn tại trên thì Điều 7 phải chỉ rõ bộ máy của cả hệ thống công đoàn và từng cấp công đoàn theo nguyên tắc gì, theo mối quan hệ nào, tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc ngành nghề hay theo số lượng đoàn viên. Mỗi cấp công đoàn có đặc thù riêng nên cần luật hóa và quy định rõ ràng, tránh sự tùy tiện, chủ quan duy y chí khi hình thành một cấp nào đó trong hệ thống công đoàn. Tôi đề nghị cần phải thống nhất hình thức, luật hóa nguyên tắc tổ chức hệ thống công đoàn ngay trong luật chứ không thể ghi như trong dự thảo do Tổng Liên đoàn hoặc do điều lệ quy định. Cần đổi mới tổ chức công đoàn để tránh việc hành chính tổ chức và hoạt động công đoàn, giảm bớt đầu mối, bớt khâu trung gian thì hoạt động của công đoàn mới có hiệu quả.

Thực tế hiện nay bộ máy công đoàn khá cồng kềnh, trong khi đó 2 chức năng cơ bản của công đoàn là chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi của người lao động thì lại rất mờ nhạt. Chính vì vậy, tôi đề nghị sửa đổi Điều 7 theo hướng quy định rõ trong luật hệ thống tổ chức công đoàn gồm 4 cấp là Tổng công đoàn Việt Nam, Công đoàn tỉnh, Công đoàn huyện và Công đoàn cơ sở. Không giao vấn đề này cho Tổng công đoàn Việt Nam quy định trong điều lệ công đoàn.

Về tài chính công đoàn quy định tại Điều 26 dự thảo Luật, đây là vấn đề còn băn khoăn, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giải trình cơ sở pháp lý của khoản thu 2%. Thời gian qua khi tổ chức lấy ý kiến dự án luật giữa các tổ chức công đoàn và doanh nghiệp hoàn toàn không tìm được tiếng nói chung. Ngành công đoàn cho rằng nguồn thu 2% là do đơn vị sử dụng lao động nộp theo quy định trong Luật Công đoàn từ năm 1957 đến nay vẫn áp dụng có hiệu quả, phù hợp với thực tế hoạt động của công đoàn nên cần tiếp tục thu. Nhưng các doanh nghiệp cho rằng nguồn thu này không có cơ sở pháp lý vững chắc, không hợp lý và không công bằng, theo quy định hiện hành, kinh phí hoạt động của công đoàn được ngân sách Nhà nước đảm bảo cân đối. Bên cạnh đó, khi đóng thuế doanh nghiệp đã gián tiếp hỗ trợ kinh phí công đoàn thông qua ngân sách Nhà nước nếu các đối tượng phải nộp kinh phí công đoàn bao gồm cơ quan, tổ chức doanh nghiệp thì rõ ràng ngân sách Nhà nước đã cấp trùng hai lần cho công đoàn: một lần là Chính phủ cấp theo Luật Ngân sách Nhà nước; một lần người sử dụng lao động nộp 2% quỹ lương, mặt khác, mức đóng góp này trên thực tế áp dụng đối với những đơn vị có tổ chức công đoàn. Do vậy, có tình trạng bất cập hiện nay nhiều đơn vị sử dụng lao động lách luật, tìm mọi cách ngăn cản việc thành lập công đoàn để tránh nghĩa vụ nộp 2%. Điều này tạo ra sự bất hợp lý và không công bằng giữa các đơn vị sử dụng lao động, làm ảnh hưởng đến việc thành lập tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Điều 26 dự thảo Luật quy định: "Chính phủ quy định chi tiết thực hiện khoản thu này sau khi thống nhất với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam". Vì sao không quy định rõ ràng khoản thu này trong luật để ĐBQH biểu quyết mà lại giao cho Chính phủ quy định chi tiết thực hiện khoản thu này sau khi thống nhất với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam?
 
ĐBQH Lưu Thị Huyền (Ninh Bình): Nên cho phép người lao động nước ngoài tham gia tổ chức công đoàn
 
Về địa vị pháp lý của công đoàn tại Điều 1, dự thảo Luật ghi: Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đại diện cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động gọi chung là người lao động, cùng với cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý KT - XH, tham gia thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, tổ chức, đơn vị doanh nghiệp, tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo tôi không cần nêu thêm cụm từ "cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động". Bởi lẽ đây là Luật Công đoàn, điều này nói về địa vị pháp lý của công đoàn thì cần phải thể hiện vai trò chủ thể của công đoàn trong việc thực hiện vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Còn đối với cơ quan Nhà nước thì đương nhiên trách nhiệm, nghĩa vụ phải bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người công dân.

Tương tự như vậy thì các tổ chức chính trị xã hội phải là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên. Còn việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác để thực hiện địa vị pháp lý của mình như thế nào, tôi cho rằng đây là phương thức hoạt động của mỗi tổ chức. Như vậy, công đoàn thực hiện vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động như thế nào, cần phải phối hợp với tổ chức nào, với ai thì phụ thuộc vào tình hình, nội dung cụ thể. Mặt khác công đoàn cùng với các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội bảo vệ, chăm lo quyền, lợi ích chính đáng của người lao động đã được ghi trong Hiến pháp thì không nên phải nhắc lại. Tôi nghĩ rằng, nếu có văn bản nào liên quan đến công đoàn lại được trích vào Luật Công đoàn thì e rằng luật sẽ rất dài và như vậy Luật Công đoàn sẽ không làm rõ vai trò chủ thể là tổ chức công đoàn.

Về quyền gia nhập vào hoạt động công đoàn của người lao động là người nước ngoài tại Khoản 2 Điều 5, tôi đồng ý phương án hai. Bởi vì khi nước ta hội nhập quốc tế, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, theo đó có hàng chục nghìn lao động là chuyên gia, lao động kỹ thuật đang làm việc tại các khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc đang làm việc tại các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong thực tế, quan hệ lao động giữa người lao động là người nước ngoài và người sử dụng lao động cũng bắt đầu có những mâu thuẫn. Nếu những đối tượng này được tham gia công đoàn thì sẽ thuận lợi hơn trong yêu cầu công tác của mình và bảo đảm bình đẳng về quyền công đoàn và người lao động. Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh, trật tự xã hội trong điều kiện chính trị, xã hội nước ta hiện nay thì những quy định cụ thể về quyền gia nhập công đoàn Việt Nam của người lao động là người nước ngoài phải được quy định chặt chẽ, chi tiết trong văn bản hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
 
ĐBQH Lê Thành Nhơn (Bình Dương): Yêu cầu có nguồn tài chính mạnh, chủ động là rất cần thiết
 
Về địa vị pháp lý của công đoàn, Điều 10 Hiến pháp năm 1992 đã quy định công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và của người lao động khác. Tại Nghị quyết số 20 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Kết luận số 09 ngày 16.9.2011 của Bộ Chính trị và các văn bản khác của Đảng và nhà nước từ trước đến nay và Bộ luật Lao động hiện hành cũng đều khẳng định và chứng minh rằng tổ chức công đoàn được xác lập là tổ chức đại diện duy nhất cho người lao động, là tổ chức có chức năng quan trọng nhất của tổ chức công đoàn.

Trong thực tế và trong bối cảnh hiện nay nếu nền kinh tế thị trường, quan hệ chủ, thợ chưa được bình đẳng và đang diễn ra ngày càng rõ nét và phức tạp, người lao động luôn rơi vào thế yếu. Để tạo điều kiện cho quan hệ này ngày càng được cải thiện theo hướng hài hòa là điều mong muốn của người lao động và kể cả người sử dụng lao động. Phải hình thành cơ chế pháp lý vững chắc để bảo vệ cho người lao động trong mối quan hệ này. Trong điều kiện hiện nay, không có tổ chức nào thực hiện tốt hơn vai trò của công đoàn trong mối quan hệ này. Thực tế đã chứng minh công đoàn là tổ chức, đối tác quan trọng và không thể thiếu được trong mối quan hệ lao động, việc này nhà nước đóng vai trò giám sát, hỗ trợ để các bên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Điều 26 về tài chính, cũng đã gần 60 năm qua, tài chính công đoàn luôn luôn là yếu tố cần để thực hiện nhiệm vụ phát huy sức mạnh của mình và khi có nguồn lực tài chính được chủ động, sử dụng đúng mục đích, đúng yêu cầu, mục tiêu và được công khai, minh bạch chính là vũ khí và lợi thế quan trọng của tổ chức công đoàn và người lao động. Mặt khác kinh phí 2% mà doanh nghiệp, tổ chức nộp cho công đoàn thì có đến 60% để lại cho công đoàn cơ sở và thực tế cũng để phục vụ trực tiếp cho người lao động ở doanh nghiệp và ở tổ chức đó, việc này đã có từ rất lâu và đã được đồng thuận rất cao.

Về quản lý và sử dụng tài chính của công đoàn, nội dung hoạt động của công đoàn có nhiều khác biệt so với các tổ chức chính trị xã hội khác. Yêu cầu có nguồn tài chính mạnh, chủ động là rất cần thiết và không thể thiếu được, kể cả tài sản do nhà nước chuyển giao và những tài sản hợp pháp khác cũng là tài sản hợp pháp của công đoàn, theo quy định tại Điều 28 của dự thảo Luật. Luật pháp cần quy định quyền tự chủ về tài chính đối với công đoàn là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn trong thời gian vừa qua cũng như thời gian sắp tới. Do đó tôi đề nghị công đoàn được quyền tự chủ sử dụng tài chính theo quy định của pháp luật và hướng dẫn thống nhất của công đoàn cấp trên. Điều quan trọng nhất là việc sử dụng đó phải đúng pháp luật, đúng hướng dẫn của tổ chức công đoàn có thẩm quyền được công khai, minh bạch, đúng mục đích và được kiểm toán hàng năm theo quy định của pháp luật.
 
ĐBQH Nguyễn Văn Sơn (Hà Tĩnh): Chức năng cơ bản và bẩm sinh của tổ chức công đoàn là đại diện chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp chính đáng của người lao động
 
Địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn trong Hiến pháp cũng như trong pháp luật đã quy định, nhưng ở đây tổ chức công đoàn ngoài việc thực hiện vai trò đại diện cho người lao động còn là tổ chức nòng cốt để xây dựng giai cấp công nhân. Chúng ta cũng khẳng định rằng, vị thế của tổ chức công đoàn cùng với những chức năng, nhiệm vụ rõ nét là đại diện chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp chính đáng của người lao động. Đây cũng là chức năng cơ bản và cũng là chức năng bẩm sinh của tổ chức công đoàn. Do vậy nếu viết cùng với Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội thì như vậy không đủ. Phải khẳng định rằng chủ thể của tổ chức công đoàn và quyền đại diện duy nhất đó là chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nếu có "cùng" thì ở đây thì là cùng với việc tổ chức thành lập và tham gia trong các hoạt động kiểm tra, kiểm soát và các hoạt động khác. Chữ "cùng" này rõ nét và nếu không đi "cùng" với các cơ quan Nhà nước thành lập thì trách nhiệm theo Điều 20, Điều 21 quan hệ đối với Nhà nước phải có yêu cầu thành lập. Vì chúng ta cũng đã có Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, có điều lệ tổ chức công đoàn, việc thành lập tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cực kỳ khó khăn và sự sống còn của tổ chức công đoàn ở đây không chỉ là vị thế mà còn là mở rộng được đối tượng đoàn viên cũng như phát triển được tổ chức công đoàn. Muốn phát triển tổ chức công đoàn dù công đoàn vận động tổ chức, dù có pháp luật cũng khó có thể thực hiện được. Do vậy, nếu có "cùng" là "cùng" việc thành lập và tổ chức vận động. Còn chức năng bẩm sinh phải khẳng định chủ thể là của tổ chức công đoàn.

Điều 5, quyền để thành lập gia nhập hoạt động của công đoàn. Tôi đồng tình với phương án thứ hai, tức là pháp luật Việt Nam tôn trọng người lao động và đồng hành cùng với người sử dụng lao động, như vậy mới có mối quan hệ lao động hài hòa. Cho nên các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư thì người lao động cũng là những người vô sản, cũng là những người công nhân, người lao động chúng ta cũng bảo vệ và họ cũng có nguyện vọng sinh hoạt nếu đi một thời gian xa. Theo tôi, vấn đề này cũng là chính đáng, bảo vệ quyền lợi người lao động.
 
 
ĐBQH Trương Văn Vở (Đồng Nai): Cân nhắc thêm điều kiện không được tham gia…
 
Về địa vị pháp lý, tôi nhất trí với giải trình, tiếp thu của UBTVQH khẳng định xác lập rõ chức năng quan trọng nhất của công đoàn là đại diện. Cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Quan hệ lao động gồm hai bên là người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động là số đông đòi hỏi phải có người đại diện, nếu không thì người lao động không biết dựa vào ai. Đây chính là điều kiện để xây dựng thúc đẩy quan hệ lao động ổn định hài hòa và lợi ích. Ngoài ra, đây cũng là vấn đề cốt tử nhằm khắc phục vướng mắc, hạn chế hiện nay do địa vị pháp lý chưa được quy định đầy đủ để giúp các tổ chức công đoàn thực hiện được vai trò, vị trí, tính chất của công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động.

Vấn đề thứ hai về quyền gia nhập vào hoạt động công đoàn của người lao động là người nước ngoài tại Điều 5. Thực tế hiện nay, nước ta đã hội nhập quốc tế, mở cửa thu hút đầu tư từ nước ngoài với số lượng chuyên gia, lao động kỹ thuật là người nước ngoài càng tăng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phát sinh mâu thuẫn giữa người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động. Do vậy, việc cho phép người lao động nước ngoài được gia nhập tổ chức công đoàn Việt Nam để chúng ta có điều kiện tuyên truyền phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước, kể cả tạo điều kiện thuận lợi cho việc động viên họ vào phong trào thi đua phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội nước ta. Đó là một vấn đề cần quan tâm. Tôi tán thành với việc quy định quyền gia nhập có điều kiện như phương án 2 của dự thảo Luật. Tuy nhiên đề nghị Ban soạn thảo, UBTVQH cân nhắc thêm điều kiện không được tham gia. Trong phương án 2 có quy định điều kiện không được tham gia vào cơ quan lãnh đạo công đoàn, tôi e rằng, nếu đưa vào luật sẽ không phù hợp với thông lệ quốc tế. Tôi đề nghị điều kiện gia nhập hoạt động công đoàn nên quy định ở điều lệ của Tổng công đoàn Việt Nam thì phù hợp hơn.

Minh Vân lược ghi
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
Quay trở lại đầu trang