XÃ HỘI
Cập nhật 21:18 | 16/09/2019 (GMT+7)
.

Tọa đàm “Nhiệt điện than và vấn đề an ninh năng lượng, môi trường và sức khỏe con người”

21:55 | 16/11/2018
Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Việt Nam hiện có 21 nhà máy nhiệt điện than đang hoạt động, với tổng công suất lắp đặt khoảng 14.310 MW. Tất cả các nhà máy nhiệt điện than đã đi vào vận hành đều được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường cung cấp nguồn năng lượng lớn cho phát triển kinh tế và tác động xã hội.

Mặc dù không thể phủ nhận vai trò của nhiệt điện than trong đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, song cũng đặt ra 3 vấn đề lo ngại khi xây dựng và vận hành các nhà máy nhiệt điện than. Thứ nhất là lượng tro xỉ thải ra, thứ hai là các chất khí thải và thứ ba là nguồn cung ứng nguyên liệu vận hành. Đây là vấn đề liên quan chặt chẽ tới công nghệ và giá thành.

Nhằm lấy ý kiến các nhà lập pháp, các chuyên gia, nhà khoa học về những giải pháp để phát triển nhiệt điện than một cách ít ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người nhất; đồng thời, tìm kiếm những nguồn năng lượng tái tạo nhằm phát triển bền vững, lâu dài, Báo ĐBND tổ chức Tọa đàm “Nhiệt điện than và vấn đề an ninh năng lượng, môi trường và sức khỏe con người”.


Ảnh: Quang Khánh

Khách mời tham gia Tọa đàm gồm:

- Ông Nguyễn Hoàng Mai, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội;

- Ông Nghiêm Vũ Khải, ĐBQH, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA);

- PGS.TS Bùi Thị An, ĐBQH Khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên môi trường và phát triển cộng đồng;

- Ông Trần Đình Sính- Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID);

- Ông Nguyễn Trọng An, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD);

- Ông Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam;

- Ông Ngô Đức Lâm, Chuyên gia năng lượng.

 Trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi nội dung Tọa đàm tại đây:

An ninh năng lượng và công nghệ phát triển nhiê%3ḅt điê%3ḅn than ở Viê%3ḅt Nam

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Theo Hiê%3ḅp hô%3ḅi Năng lượng Viê%3ḅt Nam, Việt Nam hiện có 21 nhà máy nhiê%3ḅt điê%3ḅn than đang hoạt động, với tổng công suất lắp đặt khoảng 14.310 MW; trong đó, Tâ%3ḅp đoàn Điê%3ḅn lực Viê%3ḅt Nam (EVN) hiện đang sở hữu và vận hành 12 nhà máy nhiệt điện than với 10 nhà máy sử dụng than trong nước và 2 nhà máy sử dụng than nhập khẩu. Tất cả các nhà máy nhiệt điện than đã đi vào vận hành đều được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường cung cấp nguồn năng lượng lớn cho phát triển kinh tế cà tác động xã hội.

Thưa ông Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ông đánh giá thế nào về vai trò và xu hướng phát triển của nhiệt điện than trên thế giới, cũng như ở Việt Nam?


Ông Nghiêm Vũ Khải, ĐBQH, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) - Ảnh: Quang Khánh

Ông Nghiêm Vũ Khải: Đây là một chủ đề có tính thời sự được dư luận quan tâm với những ý kiến khác nhau với tinh thần nhận thức rõ ràng, có cơ sở về xu thế chính sách phát triển năng lượng nhiệt điện than trong tổng thể sự phát triển năng lượng của đất nước phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân.

Than là một loại năng lượng truyền thống, duy trì suốt quá trình lịch sử từ khi phát triển điện đến nay. Nhìn tổng thế, chúng ta thấy rằng tỉ trọng năng lượng nhiệt điện than trong sơ đồ điện quốc gia trên thế giới có xu thế chung giảm vì có những loại năng lượng mới thay thế như là năng lượng nguyên tử, điện chạy khí, dầu khí... Trên thế giới, năng lượng than ở Mỹ chiếm 31% tương đương với khí, cộng lại khoảng trên 60% còn lại các nguồn năng lượng như thủy điện 7%, năng lượng tái tạo chiếm 16%. Mỹ có những yếu tổ để duy trì và phát triển năng lượng than. Thứ nhất, họ có nguồn than và nhập được than với giá ưu đãi. Thứ hai, họ có truyền thống, có công nghệ. Thứ ba là chính sách, như khi Mỹ tham gia vào hiệp định Kyoto ,nhưng về chính sách họ bị ràng buộc.

Những vấn đề từ sức ép của dư luận, của quốc tế nên có nhiều quốc gia như CHLB Đức có định hướng phát triển năng lượng tái tạo thay thế, chính vì thế năng lượng than giảm và Chính phủ CHLB Đức dự kiến đến năm 2023 sẽ ngừng sử dụng năng lượng than. Vì vậy, xu thế chung của thế giới về nhiệt điện than sẽ giảm và sẽ được thay thế bằng các loại năng lượng khác.

Ở Việt Nam, chúng ta có trên 20 nhà máy nhiệt điện công suất 14.000 MW và trong sơ đồ sẽ tiếp tục tăng, đến năm 2030 sẽ tăng lên 65 nhà máy, tương đương 400.000 MW. Tính sơ bộ 1.000 MG tiêu thụ 3 đến 3.5 triệu tấn than, sỉ chiếm 1/3. Đây là một cách tính cho đến năm 2030 chúng ta sẽ sản xuất bao nhiêu điện, dùng bao nhiêu than và xử lí bao nhiêu tấn sỉ than. Dư luận cũng có những ý kiến khác nhau về vấn đề nhiệt điện than nhưng nhu cầu về than, nhu cầu về năng lượng nhất định phải có. Dựa trên thực tiễn đánh giá nhu cầu về năng lượng than ở Việt Nam từ 10 – 15 năm nữa vẫn sẽ tăng.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Trần Đình Sính- Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển sáng tạo Xanh (GreenID), theo ông, công nghệ phát triển điện than ở Việt Nam đang ở đâu so với thế giới?


Ông Trần Đình Sính - Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) - Ảnh: Quang Khánh

Ông Trần Đình Sính: Theo thông tin chúng tôi có, công nghệ nhiệt điện than ở Việt Nam so với thế giới cũng không lạc hậu lắm. Hiện nay chúng ta có hầu hết là công nghệ cận giới hạn, còn nhà máy có công nghệ siêu giới hạn thì còn khiêm tốn, và trong tương lai chúng ta cần áp dụng các công nghệ tiên tiến hơn để giảm tác hại. Tôi xin lưu ý rằng công nghệ cao hơn chỉ giảm từ khoảng 5 - 10% tác hại do hiệu suất nâng cao. Cho nên, hy vọng vào giải pháp do công nghệ cũng không được nhiều lắm. Hiện nay, trên thế giới có nhiều công nghệ, so với siêu giới hạn cũng tăng lên một chút về hiệu suất và nó cũng giảm tác hại nhưng giá cũng tăng khá nhiều. Ngoài ra còn nhiều công nghệ nữa rất nhiều hứa hẹn nhưng tất nhiên kinh phí cũng tăng lên. Ví dụ những công nghệ thu giữ, xử lý cac-bon… Hiện nay giá thành điện của điện than cỡ khoảng 7 xu rưỡi cho 1 KW.

Về an ninh năng lượng, trong quy hoạch đến năm 2030, mỗi năm dùng khoảng 130 triệu tấn than, 85 triệu tấn nhập từ nước ngoài. Ở đây, tôi chưa đề cập đến kế hoạch nhập, cảng, phương tiện nhập hiện đại hay kế hoạch gì cụ thể nhưng vấn đề lo lắng là an ninh năng lượng, an ninh nhập khẩu vì chúng ta sẽ phụ thuộc vào nước ngoài. Còn nhớ năm 2015 một trận mưa lũ ở Quảng Ninh đã gây ngập nhiều mỏ than và một nhà máy của chúng ta chỉ còn 2 ngày rưỡi than thôi. Khi chúng ta có cả một Tổng Công ty để đảm bảo về than mà mưa thì chúng ta cần phải xem xét khi chúng ta nhập từ nước ngoài, và nhiều vấn đề khác như đình công,  vận chuyển, xung đột trong khu vực. Đó là vấn đề an ninh nhập khẩu.

Công nghệ thì tăng lên, phần đốt vẫn vậy nhưng do công nghệ luyện kim sản xuất được các loại thép bền hơn, chịu được nhiệt độ và áp suất cao hơn thì hiệu suất tăng lên, cùng độ cao về công suất nhưng giảm lượng than đốt.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Ngô Đức Lâm, chuyên gia về năng lượng, Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển mạnh kinh tế, nhu cầu điện năng rất cao. Trước áp lực tăng trưởng điện lớn, thủy điện đã được phát triển “tới hạn” trong khi đó nguồn than trong nước cũng đã khai thác gần như cạn kiệt, ông đánh giá như thế nào về kế hoạch phát triển điện hiện tại từ góc nhìn an ninh năng lượng quốc gia?


Ông Ngô Đức Lâm, Chuyên gia năng lượng - Ảnh: Quang Khánh

Ông Ngô Đức Lâm: Thứ nhất, thế nào là an ninh năng lượng?

An ninh năng lượng phải đặt ra 3 yêu cầu, đó là: phải đủ, phải tin cậy, phải ổn định. Thứ hai là giá năng lượng, mà giá đó có khả năng chấp nhận được ở một quốc gia, không ảnh hưởng đến sự biến động của nền kinh tế đất nước. Thứ ba, an ninh ngắn hạn không đặt vấn đề môi trường cao, nhưng an ninh dài hạn buộc phải nghiên cứu về vấn đề môi trường. Thế giới đánh giá về vấn đề môi trường thông qua con số tính toán cụ thể, thông qua các tiêu chí, định lượng… Đạt được mới đảm bảo được an ninh. 

Vậy, theo những tiêu chí ấy, thì Tổng sơ đồ VII áp dụng 55.000 MW với 372 tỉ KW về điện than tới năm 2030 có đảm bảo tới 53% phần chạy của nhiệt điện than? 

Thứ hai, chúng ta đóng góp cho an ninh năng lượng đến đâu?

Với 53% thì an ninh năng lượng Việt Nam thì như thế nào. Theo tôi, như thế là đủ. Thế giới người ta quy định nếu đảm bảo theo Tổng sơ đồ này sẽ là đủ cho phát triển kinh tế quốc dân. Như thế, nhiệt điện than là vô cùng quan trọng đóng góp cho an ninh năng lượng quốc gia.

Nhiệt điện than bây giờ là cốt lõi, nhưng tương lai xa vẫn đóng vai trò cơ bản. Độ tin cậy cao của nhiệt điện than không có nhiệt điện nào, thủy  điện nào bằng. Bởi giá của nó ổn định, đặt vào tất cả các vị trí. 

Tôi đề nghị sắp tới, trong Tổng sơ đồ VIII, Nhà nước cũng phải đặt ra nghiên cứu vấn đề này.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Trọng An, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD), ý kiến của ông về vấn đề công nghệ nhiệt điện than hôm nay và vấn đề an ninh năng lượng, môi trường và sức khỏe con người?


Ông Nguyễn Trọng An, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD) - Ảnh: Quang Khánh

Ông Nguyễn Trọng An: Bằng chứng đưa ra rằng nhiệt điện than gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người đã được đưa ra rất nhiều cả ở quốc tế và trong nước. Vấn đề nhiệt điện than ở đây chúng ta lo ngại là vấn đề khói và vấn đề xỉ than. Bụi ở trong khói và bụi trong xỉ than chứa rất nhiều bụi độc, đặc biệt là loại bụi siêu nhỏ mà ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng chỉ cần 10 hạt bụi loại siêu nhỏ, tức kích thước chỉ bằng 1/30 sợi tóc này có trong 1m3 không khí trong vòng 24h là ngưỡng, quá ngưỡng đó là nguy hiểm vì bụi này gây ra rất nhiều loại bệnh thông qua sự tiếp xúc, đặc biệt nó nhỏ quá nên sẽ chui qua cuống phổi, phế quản, tiểu phế quản vào phế nang gây ra rất nhiều bệnh như huyết áp, tim mạch, viêm phổi tắc nghẽn, hen, nhồi máu cơ tim, và kể cả bệnh về tâm thần thần kinh, giảm trí nhớ. Và gần đây một báo cáo đưa ra là vấn đề thai chết lưu và quái thai ở trẻ em cũng do các loại bụi. Làm thế nào để đảm bảo an ninh năng lượng thì chúng ta phải đặt vấn đề an toàn lên đầu tiên.

Thứ hai, vấn đề giá điện. Tôi thấy rằng chúng ta nói giá nhiệt điện than rẻ, nhiệt điện mặt trời, thủy điện bằng sóng, gió điện giá đắt hơn. Nhưng nếu tính vào mỗi năm chúng ta phải chi cho việc điều trị 135.000 ca ung thư thôi chưa nói viêm phổi tắc nghẽn, huyết áp, đột quỵ,.. và gần 75.000 người chết, rất nhiều nguyên nhân về thức ăn, thực phẩm nhưng một trong những nguyên nhân đó là do khói bụi từ nhiệt điện than, từ giao thông và những vấn đề khác. Đó là vấn đề an ninh năng lượng và vấn đề sức khỏe con người. Chúng ta cần tính toán theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng, vì con người mới là quan trọng.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa PGS.TS Bùi Thị An, ý kiến của bà về vấn đề này như thế nào?


PGS.TS Bùi Thị An, ĐBQH Khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên môi trường và phát triển cộng đồng - Ảnh: Quang Khánh

PGS.TS Bùi Thị An: Nhìn ở góc độ chính sách, mọi người dân đều có quyền được sống trong môi trường trong lành, điều này đã được Hiến định. Mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là không đánh đổi môi trường bằng kinh tế bằng bất cứ giá nào, vì mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Mục tiêu xuyên suốt, nhất quán trong nhiều năm nay, đất nước ta phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: kinh tế - xã hội – môi trường. Tôi quán triệt cụm từ bền vững, tất cả mọi lúc mọi nơi, làm chính sách phải quán triệt điều đó.

Trở lại vấn đề nhiệt điện than, so sánh thì hơi khập khễnh, khi ta còn thiếu chất đốt, dùng bếp than, dầu hỏa… nhưng đến nay bếp tổ ong gây chết người, thảm họa ô nhiễm môi trường, đã làm nhiều gia đình tàn lụi thì chúng ta xử lý thế nào. Tôi nghĩ rằng những gia đình nghèo có thể dùng còn nếu không chúng ta đưa vào bảo tàng, triển lãm. Nhiệt điện than có vai trò lịch sử của nó, có đóng cho giai đoạn vừa qua, thúc đẩy kinh tế xã hội của Việt Nam nhưng đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện tác hại của nó như thế nào. Ở góc độ làm chính sách, tôi muốn các đồng chí quan tâm ở tầm cao xem  hiệu quả, hệ quả của nó ra sao? 

Nhìn vào sơ đồ 7, để tỷ lệ như vậy là quá lớn. Nhiệt điện than trong sơ đồ nào cũng cần phải giảm xuống, vì sức khỏe của dân. Hàng năm có 94.000 ca mắc ung thư mới. Vì vậy, an toàn sức khỏe của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu.

Về an ninh năng lượng, ở ta có rất nhiều năng lượng, dạng sóng, mặt trời, sinh học, gió… Tôi nghĩ các nhà khoa học hãy vào cuộc đi. Chưa tính đến hiệu quả kinh tế, 1 đồng thu lợi nhuận do nhiệt điện than thì chi của xã hội cho bảo hiểm y tế xã hội tính ra là bao nhiêu? Theo tính toán của thế giới, thu được 1USD lợi nhuận chúng ta mất 3USD cho bảo hiểm y tế, sức khỏe thế thì có nên làm hay không? Nếu tăng như thế thì sức khỏe người dân như thế nào, lợi bao nhiêu, thiệt bao nhiêu? Riêng chuyện bụi than, tro than gây ảnh hưởng rất nhiều đến biến đổi khí hậu, hậu quả của biến đổi khí hậu là nhiệt độ tăng lên.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam: Quy hoạch điện VII điều chỉnh đặt mục tiêu tăng tỷ trọng của nhiệt điện than lên hơn 50% vào năm 2030, ông đánh giá như thế nào về mục tiêu này?


Ông Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam - Ảnh: Quang Khánh

Ông Trương Duy Nghĩa: Với mục tiêu tăng tỷ trọng của nhiệt điện than lên hơn 50% vào năm 2030 là trong điều kiện của Việt Nam với cân đối các nguồn năng lượng có thể có, cũng như nguồn năng lượng của chúng ta nhập thì 50% vẫn còn ít. Bởi chúng ta không có nguồn nào khác.

Về an ninh năng lượng mà ông Sính nói là nhập khẩu than là đúng, bởi khi ta đã nhập là chúng ta phụ thuộc. Về quan điểm cho rằng, nhiệt điện than gây ô nhiễm, tôi cho rằng, làm bất kỳ sản xuất công nghiệp gì cũng gây ô nhiễm, vấn đề chúng ta phải xem xử lý ô nhiễm như thế nào. Nếu chỉ nhìn hiện tượng đó để nói đến năm 2030 đốt hàng trăm triệu tấn than và thải nhiều tro bụi để kết tội nó. Việc kết tội nó có thể là đúng nếu chúng ta không xử lý nó. Tôi cho rằng, trong các loại hình nhà máy công nghiệp sử dụng than thì nhiệt điện than là một trong những nhà máy có công nghệ sử dụng công nghệ tro sỉ tốt nhất. Hiện không có nhà máy nhiệt điện nào của chúng ta là không có lọc bụi tĩnh điện. Còn đo nồng độ bụi của môi trường không khí xung quanh đấy là do hoạt động trên mặt đất không khí của chúng ta gây ra. Do vậy, khi chúng ta nói đến thiệt hại về kinh tế và cộng thiệt hại ấy vào giá của điện than thì cần phải định lượng rõ.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Hoàng Mai, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội, an ninh năng lượng là vấn đề hết sức quan trọng của một quốc gia. Nó cũng góp phần bảo đảm an sinh xã hội và được quan tâm phát triển, trong đó có nhiệt điện than. Xin ông cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?


Ông Nguyễn Hoàng Mai, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội - Ảnh: Quang Khánh

Ông Nguyễn Hoàng Mai: Vấn đề an ninh năng lượng và phát triển kinh tế đất nước gắn kết chặt chẽ với nhau. Một nền kinh tế không phát triển được thì rất khó có thể bảo đảm an sinh xã hội. Đấy là mối quan hệ tương tác qua lại. Qua các ý kiến trao đổi, tôi thấy vấn đề an ninh năng lượng với vấn đề sức khỏe có sự gắn bó mật thiết, vấn đề là chúng ta chọn phương án nào trong an ninh năng lượng để bảo đảm vấn đề môi trường và sức khỏe cho nhân dân. Ở đây, chúng ta không thể hy sinh bất kỳ một vế nào.

Các chuyên gia và các nhà khoa học nói nhiệt điện than phải tăng? Nhưng câu chuyên ở đây, tại sao lại tăng? Bởi vì hiện chúng ta đánh giá nó thấp, phân tích giá thành của than, giá cung cấp cho nhiệt điện than bị nhà nước khống chế giá. Rõ ràng, câu chuyện hiện nay, vì khống chế giá như vậy nên đầu vào không tính đủ nên ưu thế vượt trội so với nguồn năng lượng khác. Quan điểm của tôi là làm sao phải bảo đảm an ninh năng lượng, vấn đề là chúng ta sẽ lựa chọn loại hình năng lượng nào.

Thách thức trong phát triển nhiệt điện than

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Mặc dù không thể phủ nhận vai trò của nhiệt điện than trong đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, song những thách thức loại hình này đang đặt ra trong thực tế khiến các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng đặt ra câu hỏi về sự lựa chọn phát triển loại hình này với lo âu công nghệ lạc hậu xảy ra sự cố. 

Có 3 vấn đề lo ngại khi xây dựng và vận hành các nhà máy nhiệt điện than. Thứ nhất là lượng tro xỉ thải ra, thứ hai là các chất khí thải và thứ ba là nguồn cung ứng nguyên liệu vận hành. Đây là vấn đề liên quan chặt chẽ tới công nghệ và giá thành.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Còn ông Ngô Đức Lâm, ý kiến của ông về vấn đề này thế nào khi công nghệ hiện nay được cho là có thể giải quyết được vấn đề môi trường nhưng trên thực tế vẫn xảy ra sự cố về môi trường liên quan tới nhiệt điện than?

Ông Ngô Đức Lâm: Thứ nhất, tôi muốn đưa ra một con số. Hiện nay, trong Tổng sơ đồ điện VII, riêng về vấn đề môi trường, ngoài chi phí đền bù cho y tế, còn đền bù cho nông nghiệp, đền bù cho các công trình xây dựng. Tổng chi phí mất 3,4 tỉ đô la cho năm 2030. Chúng tôi cũng tính năm đó thì sinh ra bao nhiêu KW giờ, mới tính ra mỗi KW giờ đó đúng ra phải đền cho 1 cent. Nhưng thứ hai, có một cái chưa tính vào đó là đền bù do rác thải CO2, do biến đổi khí hậu, trong khi CO2 gấp 2,5 lần. Như thế nếu tính vào phải cộng thêm  2,5 cent nữa (thành 3,5 cent). 

Thứ hai, theo tôi, về công nghệ thì bảo đảm, nhưng khi xây dựng vận hành để đảm bảo tính kỷ luật theo công nghệ đó thì kém. Thứ nhất, trong xây dựng không bao giờ có nghiệm thu đầy đủ đã đưa vào vận hành. Tính kỷ luật và quản lý kém, chứ không phải công nghệ kém.


Ảnh: Quang Khánh

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Trọng An, việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than với bài toán công nghệ và về môi trường và bảo vệ sức khỏe người dân đang có những thách thức?

Ông Nguyễn Trọng An: Chúng ta đặt ra câu hỏi tại sao các nước văn minh người ta giảm dần nhiệt điện than? Tôi tin tưởng vào nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế về gánh nặng bệnh tật do nhiệt điện than Đông Nam Á, đặc biệt là Quy hoạch Điện 7 ở Việt Nam, thì số ca tử vong sớm ở Việt Nam do ô nhiễm nhiệt điện than sẽ tăng từ 4.300 ca năm 2011 lên đến 15.700 ca năm 2030. Đây là một tài liệu có uy tín được công bố vào tháng 1.2017. Đây là một nghiên cứu có giá trị. Chúng tôi đang nghiên cứu ở Hà Nam về vấn đề khói từ nhiệt điện Ninh Bình đổ xuống hàng năm mất mấy tháng, khói của các nhà máy xi măng, chúng tôi sẽ có công bố sau. 

Thứ hai, thực tế tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu đánh giá về vấn đề này, nhưng bằng chứng tôi đã chụp ảnh và có thể đọc cho các quý vị: Tại xã Hải Hà, Tĩnh Gia, Thanh Hóa, cạnh nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn toàn bộ xã và 18 - 20 km xung quanh nằm trong cột khói cao 200 m. Tình trạng sức khỏe, số người tử vong do ung thư phổi, gan, ung thư dạ dày của xã chiếm số lượng cao nhất trong tổng số những cái bệnh tật người chết hàng năm. Tiếp đến là đột quỵ, các bệnh về phổi, số người dân mắc bệnh tâm thần những năm gần đây trong xã cũng tăng cao. Số ca tử vong của xã trong 5 năm liền từ 2013 - 2017, số người chết do ung thư hàng năm từ 8 - 15 ca, chiếm 30 - 40% trong tổng số chết chung. Nhưng đặc biệt bắt đầu từ năm 2014 tăng vọt, chiếm gần 45%, tức 15 người chết do ung thư phổi, gan, dạ dày trên 34 - 55 người chết của xã trong 1 năm.

Thứ ba, đặc biệt người dân ở xã rất đông bệnh nhân về tâm thần, nghễnh ngãng và các vấn đề sức khỏe khác tăng cao. Cho nên, chúng ta phải tính toán kỹ lưỡng an ninh năng lượng vẫn phải đặt vấn đề an toàn là đầu tiên, sức khỏe là đầu tiên, sự sống còn đầu tiên, con người phải sống khỏe mạnh và phát triển.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa PGS.TS Bùi Thị An, nhiều người cho rằng nên phát triển nhiệt điện than vì chi phí thấp, quan điểm của bà như thế nào về vấn đề này?

PGS.TS Bùi Thị An: Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ giao cho cơ quan nào đấy đánh giá, thẩm định chuyện này và rõ ràng, minh bạch trước phương tiện thông tin đại chúng. Thường những doanh nghiệp nêu dự án bao giờ cũng nói rất hay, rất tốt, rất hiệu quả, giá thành chi phí thấp, tôi đề nghị đầu tiên là minh bạch trong cách tính giá, có thẩm định đàng hoàng, công khai và có cơ quan giám sát, có cơ quan phản biện về giá. Trong chi phí thực, giá điện than không thấp so với loại hình năng lượng khác,  giá thực về kinh tế nhưng ngoài ra, tôi đề nghị tính giá vô hình, nó ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của của nhân dân.


Ảnh: Quang Khánh

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nghiêm Vũ Khải, việc tái sử dụng tro xỉ dù đã được bàn đến nhiều, nhưng trên thực tế không phải tro xỉ của nhà máy nhiệt điện than nào cũng có thể dùng được ngay, vì sao vậy thưa ông?

Ông Nghiêm Vũ Khải: Vấn đề tro xỉ là công đoạn cuối, là chất thải của quá trình sản xuất điện than cũng như các chất thải của các nhà máy điện nguyên tử nhưng việc xử lí, chôn lấp chất thải của nhà máy điện nguyên tử mang tính chất phức tạp và nguy hiểm hơn nhiều.

Đối với tro xỉ như chúng ta đã tính sơ bộ khi đốt 10 tấn than có 3,3 tấn xỉ và với tính toán tới 2030 chúng ta có 120-130 triệu tấn than sẽ có 50 triệu tấn xỉ, đây là một hệ quả phải tính toán. Nếu sử dụng tro xỉ hiệu quả sẽ hạ giá thành của nhiệt điện than, giải quyết vấn đề kinh tế và vấn đề môi trường. Thời kì chúng ta xây dựng các đập thủy điện có lấy một ít tro bụi của một số nhà máy điện để trộn với bê tông. Đây là một thành công nhưng chúng ta sử dụng rất ít và không thể xây dựng mãi như thế. Sau đó đưa vào vấn đề san lấp, xây dựng, và một số mục đích khác nhưng không phải lĩnh vực nào cũng sử dụng tro xỉ được.

Chúng ta phải có cơ sở pháp lí cho việc sử dụng tro xỉ và phải có quy chuẩn, tiêu chuẩn kĩ thuật về sử dụng tro xỉ. Đồng thời cũng phải có hướng dẫn trong quy trình sử dụng tro xỉ.

Chúng ta phải đưa khoa học công nghệ để xác định khách quan, trung thực, minh bạch và buộc nhà đầu tư phải đầu tư phải xử lí các loại bụi, đặc biệt là bụi lơ lửng, hóa chất độc hại. Có tiêu chuẩn, trách nhiệm, biện pháp xử lí như xây dựng ống khói cao để nhà đầu tư không thể né tránh, trí trá, trốn tránh trong việc xử lí chất thải. Chính vì vậy, cần phải nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư, phải có hướng, phương án xử lí sợi tro xỉ cũng như các vấn đề độc hại trong khí thải.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Trương Duy Nghĩa, thách thức lớn nhất của phát triển nhiệt điện than là gì?

Ông Trương Duy Nghĩa: Có 2 thách thức. Một là, do dư luận  người dân hiểu đúng về phát triển điện than và bảo vệ môi trường sức khỏe người dân gắn chặt chẽ với nhau. Đây là trách nhiệm của toàn xã hội, là thách thức lớn;  rồi có địa phương chưa rõ công nghệ, tính cấp thiết đã có  quy hoạch rồi, giờ từ chối sẽ bị thiếu điện.  

Hai là, vấn đề kinh phí. Mỗi một năm đầu tư nhiệt điện than ít cũng phải 8 -12 tỷ USD. Đây là khó khăn. 

Khi chúng ta nói về thiệt hại của nhiệt điện than thì thiệt hại về cái gì, lỗi tại chỗ nào? Tôi phải khẳng định rằng, trong 6 năm nay không có chuyện bù giá than cho điện và bảo đảm giá mua than đủ bù đắp chi phí sản xuất than.  

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Với 21 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, nhu cầu tiêu thụ than ở Việt Nam hiện tại là khoảng 45 triệu tấn/năm, đến năm 2030 nhu cầu này sẽ tăng lên 129 triệu tấn/năm, thưa ông Nguyễn Hoàng Mai, ông đánh giá như thế nào về nhu cầu phát triển nhiệt điện than và những thách thức về an sinh xã hội đặt ra?

Ông Nguyễn Hoàng Mai: Tôi xin chia sẻ với GS Trương Duy Nghĩa về 2 thách thức trong phát triển về nhiệt điện than, Giáo sư Nghĩa thì cho rằng sơ đồ sai, nhưng tôi thì không cho rằng như thế. Người dân sống hàng ngày, cuộc sống tác động trực tiếp đến họ, do vậy những cái họ phản ứng là có lý do. Vì vậy, chúng ta phải giải quyết vấn đề này như thế nào cho ổn thỏa.

Về nhu cầu, quả thực hiện nay chúng ta mới ở mức chỉ bằng 1/3 so với năm 2030. Và đặt ra một loạt vấn đề mà chúng ta đang khó khăn. Tại diễn đàn QH kỳ này cũng đặt ra nhiều vấn đề về xử lý chất thải. Đây mới chỉ bằng 1/3 thôi, nếu chúng ta vẫn giữ hoạch định như thế này thì sẽ  là khó khăn cho đất nước.

Tôi cũng xin chia sẻ một ý kiến nữa đó là, tất cả phải có nghiên cứu khoa học, nhưng một căn cứ có thể tác động đó là sơ đồ 7, trong đó đã dự tính 3,4 tỷ đô để bù đắp chi phí cho các vấn đề về y tế và môi trường. Rõ ràng, tất cả đã tính đến tác hại rồi. Vấn đề nữa, được biết giá thành than được bán cho điện bị khống chế, chứ không bán tự do.

Lựa chọn công nghệ đảm bảo đáp ứng nhu cầu năng lượng gắn với bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Nhìn nhận cả vai trò quan trọng và những thách thức nhiệt điện than đặt ra trong thực tế, để đáp ứng tốc độ tăng trưởng điện ở mức khoảng 10%/năm và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, việc xem xét tỷ trọng phù hợp của loại hình này cùng lựa chọn công nghệ một một cách chọn lọc là những vấn đề cần được xem xét trong việc xây dựng Quy hoạch điện sắp tới. 

Bên cạnh đó, thúc đẩy phát triển các loại hình năng lượng thân thiện với môi trường hơn ví dụ như năng lượng tái tạo cũng cần được xem xét. Gần đây chính phủ đã ban hành một số chính sách thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam, trong đó có cơ chế cho điện gió, điện mặt trời… Trong thời gian tới, nút thắt nào cần được gỡ để loại hình năng lượng này có thể đi vào thực tế?

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Trên thế giới, năng lượng tái tạo đang phát triển ở tốc độ rất nhanh với những cải tiến về công nghệ giúp giảm giá thành sản xuất. Thưa ông Nghiêm Vũ Khải, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của năng lượng tái tạo ở Việt Nam và nút thắt nào cần được thảo gỡ để tăng tốc sự phát triển của loại năng lượng này?

Ông Nghiêm Vũ Khải: Tôi đã gắn bó với nội dung về năng lượng tái tạo khoảng 15 năm nay. Năm 2004, tôi là đại biểu Quốc hội duy nhất tham gia Hội nghị Thế giới về Năng lượng tái tạo được thủ tướng Đức- Gerhard Schröder lúc ấy chủ trì. Họ đưa ra khẩu hiệu 20-20-20 nghĩa là năm 2020 giảm 20% khí thải nhà kính và nâng tỉ trọng năng lượng tái tạo lên 20% trên tổng sơ đồ điện của toàn CHLB Đức. Lúc đó Chính phủ CHLB Đức đã đặt ra kế hoạch từng bước ngừng sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng nhiệt điện than. Đến năm 2018, CHLB Đức đã đạt trên 20% năng lượng tái tạo. Tương lai con người sẽ phụ thuộc vào năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, sóng biển, thủy triều,…


Ảnh: Quang Khánh

Năng lượng tái tạo ở Việt Nam gặp rào cản về vấn đề chính sách, tuy nhiên mục tiêu phát triển bền vững theo Thủ tướng chỉ đạo đã có đề án, cam kết, chương trình. Đồng thời, chúng ta cũng đã từng bước có những cơ chế, chính sách về năng lượng tái tạo được khuyến khích, tạo điều kiện để phát triển.

Ở Việt Nam, vấn đề bất cập về chính sách có biến chuyển nhưng biến chuyển chậm. Các đại gia như EVN hay PVN – doanh nghiệp chạy điện dầu khí chưa có quyết tâm phát triển năng lượng tái tạo, trách nhiệm của doanh nghiệp Nhà nước chưa được phát huy.Trong khi đó về năng lượng tái tạo nếu chúng ta không nắm được công nghệ, không tham gia vào chuỗi công nghệ toàn cầu thì giá thành sẽ cao. Vì thế nếu chúng ta không phát triển công nghệ trong nước, không tham gia vào quá trình sản xuất các thiết bị năng lượng tái tạo như pin mặt trời, pin gió, hệ thống biến đổi điện áp, hệ thống điện lượng, không có những cơ chế khuyến khích, bù giá sẽ không thể phát triển được năng lượng tái tạo. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng vì chúng ta không thể dựa mãi vào năng lượng truyền thống.

Chúng ta phải yêu cầu ngành điện than có những giải pháp quyết liệt để không ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân bởi quyền được sống trong môi trường lành mạnh là hiến định. Việc điều tiết về giá cả để bù đắp cho những người trực tiếp chịu ảnh hưởng, quan tâm tới những vùng và vùng lân cận bị ảnh hưởng từ nhiệt điện than. Chính vì thế chúng ta cần phải phát triển công nghệ tái tạo bởi nó tạo nguồn công việc lớn cho người dân, giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng truyền thống và phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Trọng An mối quan hệ giữa lựa chọn công nghệ nhiệt điện than với bảo vệ môi trường, sức khỏe con người như thế nào?

Ông Nguyễn Trọng An: Thứ nhất, Thủ tướng vừa cam kết các mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ hai, các chính sách của chúng ta đưa ra rõ ràng vẫn rất nhất quán không đánh đổi vấn đề môi trường, vấn đề sức khỏe với các vấn đề kinh tế khác. Trong an ninh năng lượng có 5, 6 vấn đề nhưng vấn đề đầu tiên vẫn là vấn đề an toàn sức khỏe. Tôi mong muốn các vị lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách và các nhà bảo vệ môi trường, kinh tế đều phải đặt lên bàn cân và tính toán kỹ làm thế nào chúng ta đảm bảo được sự phát triển bền vững, đảm bảo vấn đề an ninh năng lượng nhưng làm thế nào con người Việt Nam không bị đầu độc hàng ngày bởi các khói bụi, tro xỉ. Nó nằm chung trong tất cả rất nhiều vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu, nhưng vấn đề về sức khỏe bị yếu đi, giảm đi, bệnh tật tăng lên do vấn đề ô nhiễm không khí nói chung trong đó vấn đề nhiệt điện than nói riêng. Tôi cho rằng cần tính toán rất kỹ.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Ngô Đức Lâm, nhiều người lo ngại phát triển năng lượng tái tạo sẽ khiến tăng giá điện, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và đời sống của người dân. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Ngô Đức Lâm: Theo tôi, phải lấy thị trường quyết định, lấy biện pháp kinh tế để giải quyết chứ không phải biện pháp hành chính, Nhà nước chỉ làm công tác định hướng. Cho nên, nếu lấy thị trường quyết định thì việc đầu tiên phải làm giá cho công bằng. Khi giá đúng thì các nhà đầu tư quyết định vào đầu tư chứ không cần phải vận động. 

Thứ hai, nếu dùng năng lượng tái tạo mới đắt thì đúng, nhưng nếu giá của nó như thế cũng phải là đắt. Mà chính sách đến năm 2020 ta đánh thuế cacbon vào môi trường theo phương thức 30/30, tức là 30% dùng cho phát triển năng lượng tái tạo, 30% để giúp cho những người nghèo không đủ tiền để đóng khi giá tăng cao. 

Thứ ba, quan niệm của chúng ta hiện nay là tăng nhiệt điện than lên hay tăng năng lượng mới lên, theo tôi cả nhiệt điện than và năng lượng mới sẽ không hoàn thành Tổng sơ đồ VII, chủ yếu là nhiệt điện than không có vốn. Còn năng lượng mới tái tạo chưa đủ điều kiện phát triển rộng ở Việt Nam. Theo Tổng sơ đồ VII là 27.000 MW do nhiệt và do năng lượng tái tạo. Đến giờ cộng lại chưa được 1.200 MW, vậy còn bao nhiêu năm nữa? Cho nên, tôi lo cả năng lượng mới không hoàn thành và nhiệt điện than không hoàn thành. 

Vậy thì làm sao để bảo đảm cho đủ an ninh năng lượng, tôi đề nghị chúng ta quan tâm đến nhiên liệu hóa lỏng. Thì tại sao trước đây ta không đưa ra mà bây giờ lại đưa? Khi xây dựng Tổng sơ đồ VII, giá nhiên liệu hóa lỏng đắt quá, gấp 4 lần, thứ hai nó không đủ, nhưng từ 2015 đã khác, khi Mỹ tìm ra được và công nghệ phát triển hiện nay đủ khả năng cạnh tranh với nhiệt điện than, tức 10 cent cho 1 kw giờ, với điều kiện giá ở Việt Nam phải tính lại, chứ không phải là 7,5 cent.

Ngoài ra, nếu dùng nhiên liệu hóa lỏng môi trường rất tốt, giảm đi một nửa vì không có bãi, không có xỉ, diện tích cũng cực nhỏ. Tôi đề nghị phải có nghiên cứu gấp vấn đề này.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và an toàn môi trường, sức khỏe thưa bà Bùi Thị An,Chính phủ cần đưa ra chính sách như thế nào đối với hai loại hình năng lượng này?

PGS.TS Bùi Thị An: Tôi đề nghị đa dạng các loại hình năng lượng ở Việt Nam, không chỉ than, không chỉ tái tạo như là nguyên liệu lỏng cũng như sinh học.

Thứ hai là cho cạnh tranh bình đẳng, không nên độc quyền.

Thứ ba tôi đề nghị, trong quá trình làm chính sách, có dự báo kết quả, cũng như hệ lụy của nó. Tôi nghĩ rằng chúng ta phải dự báo những hiệu quả cũng như hệ quả một cách trung thực, minh bạch. Đa dạng hóa các loại năng lượng, hỗ trợ các loại hình năng lượng mới thậm chí có thể đắt nhưng có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Tôi đề nghị trong quy hoạch 7, 8 nên giảm nhiệt điện than xuống khoảng từ 20,25%. Tôi xin mở rộng ở đây, tôi đồng ý với Chính phủ có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển, ta nên phân biệt 2 loại hình doanh nghiệp của Việt Nam, một loại là hình doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội và loại hình doanh nghiệp vô trách nhiệm xã hội, họ chỉ tính lợi nhuận, không nghĩ gì đến sức khỏe của dân, môi trường… Tôi đề nghị loại hình doanh nghiệp đấy không thể ủng hộ được. Những công nghiệp dù mới, khó đắt một chút nếu như phục vụ phát triển bền vững Việt Nam cũng nên ủng hộ, để nhân dân sống khỏe, lành mạnh và được hưởng như hiến định.


Ảnh: Quang Khánh

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Trương Duy Nghĩa, làm thế nào lựa chọn công nghệ phù hợp, vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng, vừa bảo vệ môi trường và sức khỏe con người?

Ông Trương Duy Nghĩa: Về công nghệ điện có hai khâu: khâu sản xuất, công nghệ sản xuất điện và công nghệ xử lý môi trường. Công nghệ sản xuất điện dùng thông số siêu tới hạn và trên siêu tới hạn. Điều này làm lợi cho nhà đầu tư nhưng người dân chưa được lợi vì cùng lắm là nâng hiệu suất mấy phần trăm giảm được ít nhiêu liệu nhưng lại có lợi ích tổng hợp. Đây là công nghệ tiên tiến được các nước đều dùng. Nhà máy như vậy cũng đòi hỏi nhiều công nghệ cũng phải hiện đại theo. 

Tôi rất trăn trở, tại sao Việt Nam cho đến nay phát triển nhiều nhà máy điện như vậy nhưng lại chưa có ngành công nghiệp chế tạo nhà máy điện, tất cả đều nhập khẩu, điện gió, điện mặt trời đều nhập khẩu. Điều này là không đúng trong phát triển trong khi khả năng của chúng ta có thể làm được. Qua đó, tạo công ăn việc làm, quan tâm đến giải quyết môi trường.  

Mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ mới công bố tiêu chuẩn về tro sỉ dùng làm nền đường giao thông. Hiện tro sỉ làm nền đường giao thông không đáp ứng được ¼ khối lượng. Nếu làm gạch thì 20 triệu tấn tro thì một năm cũng chỉ sản xuất tối đa 12 tỷ viên gạch, trong khi đến năm 2030 cũng chỉ cần 40 tỷ viên gạch. Bên cạnh phát triển chúng ta phải dùng công nghệ hiện đại đó là công nghệ siêu tới hạn. Về môi trường thì phải xử lý triệt để, trong xử lý thì sử dụng sản phẩm xử lý môi trường. Chúng ta gần như bỏ qua hết như thạch cao là sản phẩm xử lý CO2….chúng ta chưa nghĩ đến vấn đề này. Đây là một sự lãng phí lớn.

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa ông Nguyễn Hoàng Mai, mối quan hệ giữa lựa chọn công nghệ nhiệt điện than với bảo vệ môi trường, sức khỏe con người như thế nào?

Ông Nguyễn Hoàng Mai: Theo quan điểm của cá nhân tôi, chúng ta phải thống nhất quan điểm là chúng ta phải bảo đảm an ninh năng lượng, còn cách thức đi như thế nào thì chúng ta phải có lộ trình. Những vấn đề đã xảy ra rồi thì chúng ta đặt ra nhiều vấn đề phải suy nghĩ, tuy nhiên quan điểm gốc để giải quyết vấn đề này là chúng ta làm cái này vì ai. Nếu chúng ta sẵn sàng hi sinh lợi ích của một bộ phận người để vì đại cục thì nó dễ, còn nếu vì lợi ích của toàn thể mọi người thì phải có điều chỉnh nhất định, điều chỉnh bằng cách gì, bằng cách tìm nguồn năng lượng khác để có thể bù đắp. Đương nhiên tìm nguồn năng lượng khác thì nó phải đắt, mà cứ để bàn tay thị trường điều tiết thì nó sẽ đến thôi, nhưng thời gian sẽ chậm. Điều này rõ ràng phải có chính sách của nhà nước để thúc đẩy.

Liên quan đến ý kiến để sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, tôi có cơ duyên gặp những người làm về hệ thống đèn led để chiếu sáng các đô thị, nhưng để triển khai vào thực tiễn không đơn giản. Chỉ có việc đơn giản thế thôi cũng là khó khăn. 

Một vấn đề nữa liên quan trực tiếp tới điện than đó là thời gian tới, phải để cho nhiệt điện than đi đúng giá của nó. Điện than chắc chắn phải sử dụng, nhưng sử dụng ở quy mô nào, giá như thế nào, để tốt cho sức khỏe thì công nghệ phải tốt lên. Phải công bằng giá của các năng lượng.


Toàn cảnh Tọa đàm - Ảnh: Quang Khánh

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa quý vị và các bạn!

Khi đặt sự hài hòa giữa đáp ứng nhu cầu năng lượng và bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân là mục tiêu thì rõ ràng chúng ta cần xem xét phát triển các nguồn năng lượng một cách cân bằng hơn như việc giải quyết vấn đề tro xỉ được thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than cũng đang là một bài toán khó. 

Bên cạnh xem xét một tỷ trọng phù hợp của nhiệt điện điện than, phát triển năng lượng tái tạo cần được ưu tiên thúc đẩy bởi chuyển dịch sang năng lượng xanh không chỉ đóng góp vào mục tiêu khí hậu toàn cầu mà còn là hướng đi thông minh cho Viê%3ḅt Nam: giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, tạo thêm việc làm mới và giảm được các rủi ro về tác động tiêu cực lên môi trường và sức khỏe cộng đồng. 

Trong buổi tọa đàm hôm nay, các nhà lập pháp, các chuyên gia, khoa học đã phân tích và đề xuất nhiều giải pháp để phát triển nhiệt điện than một cách ít ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người nhất. Đồng thời, tìm kiếm những nguồn năng lượng tái tạo nhằm phát triển bền vững, lâu dài. Hy vọng những thông tin quý giá này có thể giúp cung cấp cho Chính phủ, nhà quản lý đưa ra những quyết định chính sách phù hợp! 

Một lần nữa, Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

------------------------------------

* Bản quyền thuộc về Báo Đại biểu Nhân dân. Mọi hình thức sao chép đều phải dẫn nguồn.

ĐBND
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
08:09 13/09/2019
Cùng với quá trình hội nhập, gần đây, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xu hướng tăng qua các năm. Để tăng cường quản lý về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh xây dựng hành lang pháp lý, các cơ quan quản lý phải kiểm soát chặt việc cấp giấy phép cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, đồng thời tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật cũng như ý thức chấp hành của doanh nghiệp, cơ quan sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang