XÃ HỘI
Cập nhật 00:08 | 17/09/2019 (GMT+7)
.
Chuyển trọng tâm từ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình sang Dân số và phát triển

Bước ngoặt trong chính sách dân số

08:20 | 25/05/2019
Trước tình hình thế giới, trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, để đáp ứng yêu cầu chuyển trọng tâm công tác dân số từ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) sang Dân số và phát triển, theo các chuyên gia, cần giải quyết toàn diện các vấn đề cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số, không đơn thuần là kế hoạch hóa gia đình.

Chuyển trọng tâm

Hơn 55 năm qua, với chính sách sinh đẻ có kế hoạch, mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ là giảm sinh đã đạt được một cách vững chắc. Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu Dân số, Gia đình và Trẻ em Nguyễn Đình Cử, điều này cũng đặt ra câu hỏi là chính sách trong lĩnh vực dân số của nước ta hơn nửa thế kỷ qua đặt kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là trọng tâm có còn thích hợp? Nếu cần thay đổi thì phải thay đổi như thế nào? Bởi so với thời điểm hoạch định chính sách DS-KHHGĐ (1961), dân số nước ta đã xuất hiện những đặc điểm và xu hướng mới, khác biệt chưa từng thấy, tác động rất lớn đến sự phát triển bền vững của Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. 

Ông Nguyễn Đình Cử phân tích, điều đầu tiên thấy rõ nhất là Việt Nam có quy mô dân số lớn, mật độ dân số rất cao. Năm 2025, nước ta dự báo sẽ có 100 triệu dân và tiếp tục tăng chậm lên đến khoảng 107 - 108 triệu dân vào giữa thế kỷ. Dân số đông là một thị trường lớn, hấp dẫn đầu tư, nhưng cũng là thách thức lớn về an ninh lương thực, năng lượng… Bên cạnh đó, còn có tình trạng, dù tỷ lệ dân thành thị thấp nhưng tốc độ di cư, đô thị hóa, tích tụ dân số đang diễn ra khá mạnh. Bởi tuy di dân góp phần thay đổi cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất lao động nhưng việc tích tụ dân số với mật độ rất cao cũng dẫn tới nhiều áp lực đối với hạ tầng cơ sở, gây tắc ách giao thông, ô nhiễm môi trường…

Chưa kể, cơ cấu “dân số vàng” với số người trong độ tuổi lao động gấp đôi số người phụ thuộc, tuy mang lại nhiều “dư lợi” về lao động nhưng cũng là thách thức tạo việc làm và việc làm có năng suất, thu nhập cao. Cơ cấu “dân số vàng” sẽ chấm dứt vào khoảng đầu thập niên 40 của thế kỷ này. Vì vậy, nếu không khai thác nhanh và hiệu quả, cơ hội “vàng” sẽ bị bỏ qua.

Ngoài ra, với sự phát triển kinh tế - xã hội và những thành tựu về y học, tuổi thọ của người dân tăng lên, nhưng cũng đối mặt với tình trạng dân số bước vào quá trình già hóa với tốc độ nhanh vào tốp đầu của thế giới. Điều đáng nói là nước ta chưa có sự chuẩn bị tốt về an sinh xã hội để thích ứng với một xã hội già hóa, chăm sóc và phát huy người cao tuổi một cách tốt nhất. Điều này làm trầm trọng thêm thách thức về già hóa trong quá trình phát triển.

Bước ngoặt quan trọng

Trước tình hình thế giới, trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi phải có những đổi mới về công tác dân số. Hội nghị Trung ương 6, Khóa XII đã chỉ rõ cần có sự chuyển trọng tâm công tác dân số từ DS - KHHGĐ sang Dân số và phát triển, để giải quyết toàn diện, đồng bộ và căn bản hơn các vấn đề dân số. Nói cách khác, đã đến lúc phải giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số, chứ không chỉ đơn thuần là KHHGĐ, chỉ có như vậy mới dần giải quyết được vấn đề “rất lớn và khó” của công tác dân số.

“Rất lớn” là bởi nếu trước đây, chính sách DS-KHHGÐ chỉ tập trung giải quyết một vấn đề là mức sinh cao, thì nay phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Còn “rất khó” là bởi hơn nửa thế kỷ qua, tư duy DS-KHHGÐ đã ăn sâu trong xã hội, các cấp lãnh đạo và quản lý, mỗi gia đình và từng thôn xóm, bản làng. Khó không chỉ vì các nguồn lực hạn hẹp mà còn bởi làm sao hài hòa giữa quyền con người và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ðể hóa giải khó khăn, thực hiện chính sách dân số “rất lớn” trong thời kỳ mới, theo các chuyên gia, cần cụ thể hóa chính sách thông qua các chiến lược, chương trình, dự án thích hợp từng giai đoạn; kiện toàn tổ chức bộ máy, từ Trung ương đến cơ sở phù hợp mục tiêu của chính sách, có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số cùng huy động cả hệ thống chính trị, xã hội và đầu tư kinh phí thỏa đáng.

Mặt khác, để dân số được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường không thể không tính đến yếu tố dân số. Thông tin, số liệu và dự báo dân số phải được cung cấp đầy đủ cho mọi kế hoạch phát triển và phải là một trong những cơ sở đáng tin cậy của các kế hoạch này. Nói cách khác, dân số phải được lồng ghép vào kế hoạch hóa phát triển. Ðây là yêu cầu, cũng là giải pháp quan trọng khi chuyển trọng tâm chính sách dân số sang “dân số và phát triển”.

 Chuyển trọng tâm dân số trước hết nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số, với mục tiêu phấn đấu duy trì ổn định vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ lệ giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; duy trì và tận dụng có hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số, phân bố dân số phù hợp với quá trình phát triển. Hai là chuyển trọng tâm, không từ bỏ KHHGĐ mà KHHGĐ được thực hiện theo phương thức mới. Ba là, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục, vận động về dân số và phát triển. Đa dạng hóa kênh truyền thông, truyền tải những thông điệp phù hợp tới từng nhóm đối tượng, từng vùng, miền là yêu cầu cấp bách hiện nay. Bốn là, tính đến các yếu tố dân số trong quá trình kế hoạch hóa phát triển.

Lan Chi
Xem tin theo ngày:
LAO ĐỘNG
08:09 13/09/2019
Cùng với quá trình hội nhập, gần đây, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xu hướng tăng qua các năm. Để tăng cường quản lý về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh xây dựng hành lang pháp lý, các cơ quan quản lý phải kiểm soát chặt việc cấp giấy phép cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, đồng thời tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật cũng như ý thức chấp hành của doanh nghiệp, cơ quan sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Quay trở lại đầu trang