KINH TẾ
Cập nhật 19:54 | 31/07/2014 (GMT+7)
.

Từ hiệu quả thu mua tạm trữ lúa gạo đến đổi mới chính sách nông nghiệp

09:02 | 01/08/2013
Hiệu quả của chương trình thu mua tạm trữ lúa gạo vụ hè - thu năm nay đã phản ánh thực tế cấp thiết: nông nghiệp nước ta cần có sự đổi mới toàn diện.

Được thực hiện từ ngày 15.6, chương trình tạm trữ thu mua lúa gạo của nông dân với mục tiêu giúp nông dân có lãi 30%. Tuy nhiên, theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2013 của Chính phủ, lương thực lại là nhóm giảm giá duy nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (giảm 0,3%). Lý giải cho tình hình trên, tại buổi họp báo thường kỳ của Chính phủ ngày 30.7, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết, giá gạo sẽ giảm khi tất cả cùng bán. Mà đây lại là thời điểm các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bước vào vụ thu hoạch. Khi có gói tạm trữ, đà giảm giá của hơn 1 tháng trước đã chậm lại, giá gạo được giữ ổn định. Tuy nhiên, theo dự kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vào thời điểm tháng 8.2013, nhiều tỉnh ở ĐBSCL vẫn đang vụ thu hoạch rộ, diện tích thu hoạch dự kiến 680.000 ha, ước đạt 3,74 triệu tấn lúa với sản lượng hàng hóa là 1,51 triệu tấn quy gạo. Như vậy, sắp tới giá lúa gạo còn có thể giảm dưới tác động do sản lượng tăng.


Nguồn: vtv.vn
Chủ trương của chương trình thu mua tạm trữ lúa gạo là bảo đảm người dân trồng lúa vẫn có lãi trong khi nguồn cung tăng. Tuy nhiên, đến cuối tháng 7, giá lúa có tăng nhưng tăng rất chậm. Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tổng kết, giá gạo chỉ tăng từ 300-700 đồng/kg, chưa đạt tới mức 5.400 đồng/kg là mức người nông dân có lãi 30%. Bên cạnh đó, theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến ngày 31.7, thời điểm kết thúc thu mua tạm trữ lúa gạo theo quyết định 850/QĐ-TTg ngày 4.6.2013, khả năng thu mua tạm trữ chỉ đạt 80-85% chỉ tiêu Chính phủ giao với khối lượng tương đương 800.000 – 850.000 tấn. Nguyên nhân của tình trạng “nông dân không có lãi, doanh nghiệp không chịu mua” đã được phân tích nhiều lần. Thứ nhất, cơ chế xác định giá mà các doanh nghiệp xuất khẩu phải trả cho người nông dân là phức tạp và không phù hợp. Thứ hai, thời gian cho vay tạm trữ thường là 3 tháng, nhưng doanh nghiệp không mua tại thời điểm giá cao, mà chỉ tiến hành mua khi giá ở mức thấp. Thứ ba, thời gian thu hoạch lúa tương đối khác nhau giữa các tỉnh, song thời gian thu mua tạm trữ lại cố định.

Các giải pháp đã được đưa ra nhiều, trong đó tập trung vào hạn chế lợi thế “nắm đằng chuôi” của doanh nghiệp. Với cơ chế hiện nay, các doanh nghiệp có thể chờ đến khi gạo xuống tới mức thấp nhất rồi mới mua, trong khi nông dân thì không thể chờ vì lúa đã thu hoạch không có kho chứa. Đúng là nếu nhìn từ bên ngoài, các doanh nghiệp được hưởng lợi từ tiền ngân sách hỗ trợ lãi suất. Có một thực tế là hiện nay nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo chỉ trông chờ vào phần chênh lệch giữa giá thu mua gạo thấp (do được Chính phủ hỗ trợ) và giá bán lại để kiếm lợi nhuận. Trong khi đó, xuất khẩu - đầu ra của sản phẩm lại đang bị thu hẹp, do sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh mới như  Ấn Độ, Myanmar. Đó mới là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp không mặn mà với việc thu mua gạo tạm trữ. Bên cạnh đó, gạo Việt Nam hiện nay chủ yếu cạnh tranh ở phân khúc gạo giá rẻ, bởi chất lượng còn kém và không đồng đều. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa có thái độ chủ động tìm kiếm thị trường. Đầu ra thu hẹp, lợi nhuận mất dần, các doanh nghiệp càng phải tìm cách chèn ép nông dân để tăng doanh thu. Đó là một cái vòng luẩn quẩn sẽ kết thúc ở một tương lai không hề tươi sáng cho lúa gạo Việt Nam.

Nếu một chính sách tiêu tốn hàng tỷ đồng của Nhà nước, lại chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, liệu có nên cân nhắc từ bỏ? Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự cần thiết của chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo, bởi nó không chỉ bảo đảm thu nhập cho nông dân mà còn là biện pháp bảo vệ gạo Việt Nam trước sự biến động về giá trên thị trường quốc tế. Mặc dù vậy, kể cả khi có khắc phục được điểm yếu về cơ chế thì cũng không thể bảo đảm mục tiêu của chương trình. Căn cơ của vấn đề vẫn nằm ở đầu ra cho xuất khẩu. Mà muốn tìm được đầu ra, cần thiết giải quyết vấn đề chất lượng sản phẩm. Muốn cải thiện chất lượng sản phẩm, phải nhìn vào những vấn đề cố hữu của nông nghiệp Việt Nam. Diện tích canh tác còn nhỏ lẻ, manh mún. Sản xuất chưa có định hướng, mạnh ai nấy làm. Chưa có sự liên kết giữa 3 nhà: nhà nông - doanh nghiệp - nhà khoa học, dẫn tới sự thiếu đồng bộ trong khâu sản xuất - tiêu thụ. Song đó không phải là những vấn đề người nông dân hay doanh nghiệp có thể giải quyết được. Xin được kết bài bằng nhận định của Bộ trưởng Vũ Đức Đam: “Đã đến lúc cần nhìn nhận sâu sắc, toàn diện ngành nông nghiệp để có những đổi mới cần thiết”.

Ngọc Điệp
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang