KINH TẾ
Cập nhật 23:20 | 06/12/2019 (GMT+7)
.
Ngành dệt may 6 tháng đầu năm

Doanh nghiệp lớn cũng khan hiếm đơn hàng

08:21 | 20/07/2019
Kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm ước đạt 17,97 tỷ USD, trong khi mục tiêu cả năm là 40 tỷ USD. Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam TRƯƠNG VĂN CẨM cho biết, tình trạng khan hiếm đơn hàng xảy ra khá phổ biến, ngay cả doanh nghiệp lớn cũng bị chuyển đơn hàng.

Cơ hội từ CPTPP chưa có thật?

- Tình hình ngành dệt may nửa đầu năm nay như thế nào, thưa ông?

- Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm ước đạt 17,97 tỷ USD, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm 2018, còn kim ngạch nhập khẩu ước đạt 11,39 tỷ USD, tăng 5,66%. Giá trị nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu tăng 7,04%. Giá trị nội địa của hàng hóa dệt may xuất khẩu đạt 8,4 tỷ USD, tăng 10,45%. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu 6 tháng ước đạt 7,22 tỷ USD, tăng 12,84% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 46,9%; tiếp đó là các thị trường trong khối Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) tăng 11,13%, chiếm tỷ trọng 16,71%.

Về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may, 5 tháng đầu năm có 63 dự án với số vốn khoảng 700 triệu USD, trong đó có 17 dự án của Trung Quốc với vốn đăng ký đạt 205 triệu USD, Hàn Quốc có 12 dự án vốn đăng ký 22 triệu USD… Tổng số vốn FDI đầu tư vào dệt may đến tháng 5.2019 lên 18,6 tỷ USD.

Trong khi đó, đơn hàng của các doanh nghiệp không được khả quan so với năm 2018. Tình trạng khan hiếm đơn hàng khá phổ biến. Lượng đơn hàng của nhiều doanh nghiệp mới chỉ bằng khoảng 70% so với cùng kỳ năm 2018. Đặc biệt, việc tiêu thụ sợi và phụ liệu gặp nhiều khó khăn.

- Vì sao xảy ra tình trạng khan hiếm đơn hàng, trong khi đầu năm nay Hiệp hội dự báo tình hình khá thuận lợi và khả quan?

- Chúng ta thấy rằng các hiệp định thương mại tự do thường tác động rất mạnh ở giai đoạn khởi đầu, tạo hứng khởi cho các doanh nghiệp rất lớn. Nhưng khi hứng khởi đó dịu lại thì khách hàng lại tính toán lợi ích liệu có hơn ở những chỗ khác không. Chẳng hạn Việt Nam đã ký hiệp định Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu (EVFTA) nhưng chưa có hiệu lực nên vẫn đang chịu mức thuế cao. Trong khi đó, ở các nước khác, nhất là với các đối thủ của chúng ta đã có nền tảng từ trước. Hay như khách hàng thấy rằng cơ hội từ CPTPP chưa có thật, nên trước mắt họ chuyển đơn hàng. Đây là lý do khiến nhiều doanh nghiệp gặp phải tình trạng nhiều đơn hàng chuyển đi. Thậm chí ở nhiều doanh nghiệp lớn cũng gặp phải tình trạng này khiến bản thân tôi cũng thấy ngỡ ngàng.

- Như vậy, liệu ngành dệt may có đạt được mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD trong năm nay không thưa ông?

-  Các doanh nghiệp sẽ phải cố gắng rất nhiều mới có thể đạt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD cả năm 2019. Để đạt mục tiêu này, 6 tháng cuối năm ngành dệt may phải tăng trưởng 11% trở lên. Thường cuối năm là những tháng giao hàng nhiều, nhất là những hàng có giá trị cao. Điều cần nhất lúc này là tìm kiếm đơn hàng, bảo đảm sản xuất liên tục từ giờ đến cuối năm và đặc biệt là sự phối hợp chia sẻ giữa các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có thế mạnh thì có thể ký được đơn hàng nhiều hơn. Trong khi đó, trong ngành dệt may đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên phải có những doanh nghiệp lớn làm đầu tàu để ký được những đơn hàng lớn. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng sẽ rất khó khăn trong thời gian tới.

Mong có một số khu công nghiệp dệt may trọng điểm

- CPTPP đã có hiệu lực và đặt ra tiêu chuẩn ngặt nghèo về xuất xứ. Ông đánh giá như thế nào về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn này của ngành dệt may Việt Nam?

- Đây là khâu khá khó thực hiện bởi vì CPTPP quy định xuất xứ từ sợi trở đi. Hiện nay, các doanh nghiệp của chúng ta chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng. Trong khi đó, đa phần các khách hàng có chuỗi cung ứng của họ, hoặc các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nằm trong chuỗi cung ứng đó thì thường họ sẽ chỉ định vải hoặc sợi và phải lấy nguồn nguyên liệu từ đâu. Tôi hy vọng rằng, nếu như trước đây đối tác chỉ định ở nước ngoài, thì bây giờ vì lợi ích của CPTPP khi thuế về 0% họ sẽ tìm các doanh nghiệp trong nước để cung cấp hàng đáp ứng yêu cầu xuất xứ. Trên thực tế, chỉ khi có nhu cầu từ khách hàng thì mới có cung, khi khách hàng chưa đặt ra yêu cầu cho doanh nghiệp trong nước để sản xuất thì không một doanh nghiệp nào dám “tự bày” ra sản xuất cả. Cho nên, các doanh nghiệp phải liên kết với khách hàng để hình thành một chuỗi liên kết, từ đó thúc đẩy họ đưa ra những yêu cầu cung cấp các mặt hàng để doanh nghiệp trong nước đáp ứng. Tuy nhiên, ngoài những quy định xuất xứ từ sợi trở đi cũng có những trường hợp ngoại lệ, các doanh nghiệp phải nắm được những ngoại lệ đó để tận dụng.

- Được biết Bộ Công thương đang soạn dự thảo chiến lược của ngành dệt may. Ông chờ đợi gì ở bản chiến lược này?

- Ngành dệt may Việt Nam cho đến nay cũng đã có những chiến lược, quy hoạch, tuy nhiên những quy hoạch, chiến lược đó thường không theo kịp được tốc độ phát triển của ngành, thường đặt ra mục tiêu thấp hơn. Thực ra đã có đề án xây dựng quy hoạch đối với ngành dệt may và cũng đã được nghiệm thu, tuy nhiên, hiện nay cả ở các địa phương và ở ngành các doanh nghiệp đang rất phân tán, đặc biệt trong lĩnh vực về sợi và dệt. Trong khi đó, ngành dệt rất nhiều người cho rằng đây là ngành gây ô nhiễm khiến nhiều địa phương không mặn mà. Nếu dự thảo chiến lược được duyệt, chúng tôi mong muốn Nhà nước có thể chỉ đạo xây dựng một số khu công nghiệp dệt may trọng điểm và ở đó có hỗ trợ xử lý nước thải. Thực tế từ trước đến nay ít có khu công nghiệp nào chỉ chuyên về dệt và nhuộm mà thường thu hút lẫn cả dệt, may và sợi. Tôi cho rằng, chỉ cần có 3, 4 khu công nghiệp riêng về dệt, vải, nhuộm sẽ giải quyết được vấn đề ô nhiễm và giải quyết được nguồn nguyên liệu cho ngành dệt may. Ngành dệt may phải phát triển bền vững tức là bảo đảm môi trường thân thiện và người lao động có thu nhập cao.

- Xin cảm ơn ông!

An Thiện thực hiện
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang