KINH TẾ
Cập nhật 19:18 | 25/01/2020 (GMT+7)
.
Cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước

Chưa thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng

08:35 | 11/12/2019
Tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước năm 2019 và lũy kế giai đoạn 2017 - 2019 theo Bộ Tài chính là “còn chậm”. Tuy nhiên, đánh giá này có phần “nhẹ nhàng”, “nói giảm nói tránh” so với kết quả trên thực tế.

Không phải “chậm” mà là “quá chậm”

Theo Công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 1.7.2017 và Quyết định số 26/2019/QĐ-TTg ngày 15.8.2019 của Thủ tướng thì kế hoạch cổ phần hóa giai đoạn 2017 - 2020 là 128 doanh nghiệp.

Tại cuộc họp báo chuyên đề ngày 10.12, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) Đặng Quyết Tiến cho biết: Trong năm 2019 có 9 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa, tuy nhiên trong đó chỉ có 3 doanh nghiệp thuộc danh mục phải cổ phần hóa theo Công văn 991 (2 doanh nghiệp) và Quyết định 26 (1 doanh nghiệp). Lũy kế giai đoạn 2016 - 2019, có 168 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 443.056 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 206.694 tỷ đồng. Trong số đó chỉ có 36 doanh nghiệp thuộc danh mục 128 doanh nghiệp cổ phần hóa, đạt 28% kế hoạch; như vậy số doanh nghiệp còn phải thực hiện cổ phần hóa theo kế hoạch tính đến hết năm 2020 là 92 doanh nghiệp.

Những đơn vị còn nhiều doanh nghiệp thuộc danh sách phải thực hiện cổ phần hóa đến năm 2020 gồm: TP Hà Nội 13 doanh nghiệp (4 tổng công ty), chiếm 14% kế hoạch; TP Hồ Chí Minh 38 doanh nghiệp (11 tổng công ty), chiếm 40% kế hoạch; Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp 6 doanh nghiệp (3 tập đoàn, 3 tổng công ty); Bộ Công thương 4 doanh nghiệp (3 tổng công ty); Bộ Xây dựng 2 tổng công ty.

Kết quả thoái vốn nhà nước còn “tệ” hơn nữa. Cụ thể, theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17.8.2017 của Thủ tướng, giai đoạn 2017 - 2020 thực hiện thoái khoảng 60.000 tỷ đồng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp.

Năm 2019 có 13 doanh nghiệp thuộc danh mục ban hành theo Quyết định 1232 thực hiện thoái vốn với giá trị 896 tỷ đồng, thu về 1.839 tỷ đồng. Lũy kế từ năm 2017 - 2019, đã thực hiện thoái vốn nhà nước tại 92 đơn vị với giá trị 4.704 tỷ đồng, thu về 8.964 tỷ đồng. Như vậy, việc triển khai thoái vốn nhà nước theo Quyết định 1232 chỉ đạt 7,8% kế hoạch.

 Những đơn vị còn nhiều doanh nghiệp phải thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 1232 với giá trị lớn là: Bộ Công thương còn phải thoái vốn tại Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam; Bộ Giao thông - Vận tải phải thoái 30,4% vốn nhà nước đầu tư tại Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam - Công ty CP và 35,16% vốn nhà nước đầu tư tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam - Công ty CP; Bộ Xây dựng còn phải thoái vốn tại 8/11 Tổng công ty cổ phần; TP Hà Nội còn phải thoái vốn tại 31/34 doanh nghiệp.

Những nguyên nhân quen thuộc

Ngoài việc không đạt kế hoạch, quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước còn có 2 hạn chế khác. Thứ nhất, chậm quyết toán bàn giao sang công ty cổ phần, chậm bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng Công ty Quản lý vốn Nhà nước (SCIC) và chưa bảo đảm kế hoạch theo chỉ đạo của Thủ tướng. Thứ hai, nhiều doanh nghiệp chậm đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán. Điều này ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của thị trường, chậm đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp sau cổ phần và hạn chế công tác giám sát của toàn xã hội đối với các doanh nghiệp này.

Những nguyên nhân mà Bộ Tài chính chỉ ra cũng không có gì mới. Về chủ quan, Bộ Tài chính cho biết, một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại theo chỉ đạo của Thủ tướng và chấp hành chế độ báo cáo. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.

Về khách quan, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc về tài chính, đất đai, lao động trong giai đoạn trước cổ phần hóa làm kéo dài thời gian thực hiện cổ phần hóa. Đặc biệt là vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do UBND địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định dẫn đến các doanh nghiệp phải điều chỉnh tiến độ cổ phần hóa.

Cho đến nay, sự chậm trễ trong việc cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước đã trở nên quen thuộc đến mức… nhàm chán, bất chấp không biết bao nhiêu lần các cơ quan liên đới, lãnh đạo Chính phủ đưa ra kế hoạch, tìm giải pháp, đôn đốc, thúc giục, và thậm chí nói rằng sẽ “xử lý” cá nhân và tổ chức chậm trễ trong cổ phần hóa và thoái vốn. Vậy thì câu hỏi đặt ra những nguyên nhân mà Bộ Tài chính nêu ra trên đây đã đủ, đã nhìn thẳng vào thực tế hay chưa? Từ đó, mới có giải pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng cổ phần hóa và thoái vốn năm nào cũng trễ hẹn.

Hà Lan
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang