DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 20:56 | 21/10/2014 (GMT+7)
.
Trao đổi

Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp thực trạng và những vấn đề đặt ra (Phần 1)

07:51 | 29/12/2011
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đến giữa thế kỷ XXI “nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (1). Để đạt được mục tiêu này, Đảng ta xác định phải quán triệt và thực hiện 8 phương hướng cơ bản, trong đó có “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(2) mà một nội dung quan trọng của phương hướng đó l“nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(3).

Chúng tôi thấy rằng, việc nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp phải xuất phát từ những quan điểm, chủ trương và đường lối trên đây của Đảng. Song, ở nước ta hiện nay trên sách báo và nhiều văn kiện của Đảng những Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án thường được gọi chung là Cơ quan tư pháp hay Cơ quan bảo vệ pháp luật, chỉ có Điều thứ 63 Hiến pháp năm 1946 quy định rõ: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ công hòa gồm có:

a) Tòa án tối cao

b) Các tòa án phúc thẩm

c) Các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp”.

Các bản Hiến pháp của nước ta sau này là Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), sau đây viết gọn là Hiến pháp năm 1992, đều có một chương với tiêu đề là “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, trong đó về Tòa án nhân dân có một số điều quy định cụ thể, cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân (TAND); về Viện kiểm sát nhân dân có một số điều quy định cụ thể, cơ bản về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Như vậy, trong các bản Hiến pháp này không quy định rõ cơ quan tư pháp là cơ quan nào như trong Hiến pháp năm 1946, nhưng đều có những điều quy định về Tòa án. Trong các văn kiện của Đảng cũng không ghi rõ cơ quan tư pháp là Tòa án, kể cả trong các Nghị quyết về công tác tư pháp hay về cải cách tư pháp. Chẳng hạn, trong Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 2.1.2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới tại điểm 2, phần B, mục II đã ghi rõ:

“2- Tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện những chủ trương về cải cách, tổ chức và đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX”. Tiếp theo là xác định những nội dung cụ thể cần nghiên cứu về cơ quan điều tra (điểm a); về Viện kiểm sát (điểm b); về Tòa án (điểm c); về Cảnh sát tư pháp (điểm d); về Tổ chức giám định tư pháp (điểm đ) (trang 7,8,9 Nghị quyết số 08 – NQ/TW). Trong Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 2.6.2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây viết gọn là Nghị quyết số 49 – NQ/TW) điểm 2.2 trong mục II với tiêu đề “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân” cũng xác định nhiệm vụ của Tòa án các cấp, của Viện kiểm sát và của Cơ quan điều tra, trong đó còn đề cập cả Cơ quan thi hành án (xem Nghị quyết số 49 NQ/TW, trang 5,6). Mới đây nhất trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khi đề ra chủ trương “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp” cũng xác định những nội dung cụ thể về đổi mới tổ chức và hoạt động của ba cơ quan là Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra (xem văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 250, 251). Chúng tôi cũng xin lưu ý thêm là tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004 quy định:

“Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:

a. Cơ quan điều tra

b. Viện kiểm sát

c. Tòa án”

Như vậy có thể thấy rằng, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta từ sau Hiến pháp năm 1959 và cả trong các văn kiện của Đảng ta đã ghi nhận các cơ quan tư pháp, chứ chưa khẳng định chỉ Tòa án mới là cơ quan tư pháp như trong Hiến pháp năm 1946. Vậy thì, ở nước ta hiện nay những cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp hay chỉ Tòa án thực hiện quyền này. Đây là một vấn đề lớn cần được làm rõ để thực hiện sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có ý kiến cho rằng: “thực hiện quyền tư pháp về thực chất là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật vào việc phát hiện, xem xét đánh giá các hành vi vi phạm pháp luật hoặc các sự kiện, tranh chấp pháp luật để phán xét về tính chất pháp lý của hành vi hay sự kiện, tranh chấp đó, đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan, qua đó góp phần bảo vệ, duy trì công lý về trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho công dân, sự ổn định và phát triển của đất nước và xã hội. Như vậy, hoạt động trung tâm làm ra sản phẩm cuối cùng của toàn bộ quá trình thực hiện quyền tư pháp là hoạt động xét xử do Tòa án thực hiện. Tuy nhiên, Tòa án không phải là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp”(4). Người đưa ra ý kiến này cho rằng, thuật ngữ các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay đang được hiểu theo nghĩa rộng, ngoài Tòa án và Viện kiểm sát được xếp ở một chương riêng trong Hiến pháp còn có những cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án hình sự và dân sự, cơ quan công chứng), thậm chí gồm cả các tổ chức xã hội nghề nghiệp như Luật sư – tức là những tổ chức nằm ngoài quyền lực nhà nước. Đi xa hơn nữa tác giả của luận điểm trên đây đã khẳng định: “Cần phân biệt các cơ quan tư pháp được dùng với ý nghĩa, phạm vi như trên với ngành tư pháp thuộc hệ thống hành pháp (bao gồm Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp, Ban Tư pháp – từ đây gọi chung là cơ quan thuộc ngành tư pháp)(5).

Một nhà nghiên cứu khác lại đề nghị hai mô hình các cơ quan thực hiện quyền tư pháp là:

Mô hình 1: Quyền tư pháp có hệ thống VKSND tối cao và hệ thống TAND tối cao chung như hiện nay. Nhưng về TAND tối cao thì lại có hai phương án là:

Phương án I: Tòa án nhân dân tối cao có thêm Tòa Hiến pháp với tư cách là Tòa chuyên trách.

Phương án II: Tòa án Hiến pháp chuyên trách thực hiện thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp do một luật riêng quy định. (Xem sơ đồ mô hình 1)

Mô hình 2: Tách VKSND thành một hệ thống riêng, độc lập, thực hiện nhánh quyền lực nhà nước thứ tư là quyền kiểm sát, còn về TAND thì vẫn giữ như phương án II của mô hình 1. Như vậy, theo người đưa ra ý kiến thứ hai này thì quyền lực nhà nước vẫn là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiểm sát (4 nhánh quyền lực)(6).

Người đưa ra ý kiến thứ ba về cơ quan tư pháp, tuy chưa khẳng định rõ chỉ có Tòa án mới là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp nhưng cũng đã thấy rằng, “Tòa án là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định được xem xét và xử một cách công khai theo những thủ tục chặt chẽ, nhằm đưa ra phán xét mang tính quyền lực nhà nước(7). Như vậy, ý kiến này đã tiến gần đến khái niệm cơ quan tư pháp được quy định tại Điều thứ 63 Hiến pháp năm 1946.

Từ những tài liệu đã dẫn ra trên đây có thể khẳng định rằng, ngoài Hiến pháp năm 1946, ở nước ta chưa có văn bản nào khác đưa ra khái niệm rõ ràng về cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực tư pháp nói riêng và nói chung là cả quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp như là những nhánh quyền lực của quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lực đó. Bởi vậy, theo chúng tôi thì phải quy định rõ trong Hiến pháp sửa đổi lần này là cơ quan nào thực hiện quyền lập pháp, cơ quan nào thực hiện quyền hành pháp, cơ quan nào thực hiện quyền tư pháp để các cơ quan đó phối hợp và kiểm soát lẫn nhau. Theo chúng tôi thì phải sửa đổi nhiều điều của Hiến pháp năm 1992 để khẳng định QH là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành pháp, Tòa án là cơ quan tư pháp. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể bàn đến thực trạng và những vấn đề đặt ra về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tư pháp, chứ không phải “của các cơ quan tư pháp” một cách chung chung, thiếu cụ thể như hiện nay. Và như thế mới góp phần thiết thực vào việc sửa đổi Hiến pháp lần này cũng là góp phần tích cực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền theo quan điểm, đường lối của Đảng. Ở đây, chúng tôi không bình luận về những ý kiến cho rằng ở nước ta có các cơ quan tư pháp thực hiện quyền tư pháp vì những người đưa ra ý kiến này đã căn cứ vào các văn bản của Đảng và Nhà nước. Song, nếu không xác định rõ như ở nhiều nước trên thế giới là chỉ có Tòa án mới là cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp thì gặp nhiều vướng mắc không thể giải quyết được. Chẳng hạn, nếu khẳng định VKSND là cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp thì sẽ không phù hợp với quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 là:“không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Từ nội dung Điều này chúng tôi rút ra hai kết luận sau đây:

Chỉ có Tòa án mới có quyền phán xét một người có tội hay không có tội, hay nói rộng ra là có vi phạm pháp luật hay không, trừ những vi phạm pháp luật về trật tự, vệ sinh công cộng. Theo chúng tôi thì đây là quyền lực tư pháp – một trong ba quyền lực nhà nước thống nhất;

Không thể căn cứ vào Kết luận điều tra của cơ quan điều tra, vào Quyết định truy tố của VKS mà coi người đã khởi tố bị can, người đã bị truy tố theo cáo trạng là người có tội. Do đó không thể coi cơ quan điều tra là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp – một trong ba quyền lực nhà nước thống nhất. Hơn nữa, trong thực tế ở nước ta cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng mà hai bộ này thuộc cơ cấu của Chính phủ và chắc rằng tới đây Chính phủ sẽ được khẳng định là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Còn VKS ở nước ta là một cơ quan độc lập nhưng lại có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 137 Hiến pháp năm 1992). Vậy chẳng lẽ lại có một cơ quan tư pháp kiểm sát các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp khác, trừ những hoạt động được coi là tư pháp của chính mình như: phê chuẩn hay không phê chuẩn quyết định khởi tố; phê chuẩn hay không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam, gia hạn tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn của cơ quan điều tra; tự mình quyết định việc truy tố hay không truy tố, kháng nghị hay không kháng nghị bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm và đặc biệt là quyền quyết định đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự sau khi đã nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của cơ quan điều tra (các quyền này của VKS được quy định rõ trong pháp luật hiện hành nhưng để bài viết được ngắn gọn chúng tôi không dẫn chứng điều luật cụ thể). Ở nhiều nước trên thế giới những quyền này thuộc quyền hành pháp của Chính phủ do Viện Công tố thực hiện nên quyền Viện Công tố không được coi là cơ quan tư pháp, chỉ có Tòa án mới là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp mà thôi. Chẳng hạn, Điều 40 Hiến pháp năm 1831 được bổ sung vào các năm 1870, 1980, 1989, 1993 và 1994 của Vương quốc Bỉ đã quy định: “Quyền tư pháp được thực hiện bởi các phiên tòa và các Tòa án. Các bản án và phán quyết đều được tuyên nhân danh Quốc vương”. Điều 3 Hiến pháp năm 1949 được bổ sung năm 1953 của Đan Mạch quy định: “Quyền tư pháp do các Tòa án thực hiện(8).

(còn nữa)

__________________

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật. Hà Nội 2011, trang 71.

2. Sách đã dẫn, trang 72.

3. Sách đã dẫn, trang 247.

4. Phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư pháp. Ts Uông Chu Lưu. Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước hiện nay” do Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức tại Hà Nội, tháng 6.2004, trang 61.

5. Phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư pháp. Ts Uông Chu Lưu. Sách đã dẫn, trang 62.

6. Bàn về quyền tư pháp trong Hiến pháp Việt Nam sửa đổi. Gs.Tskh Lê Cảm. Kỷ yếu Hội thảo về sửa đổi Hiến pháp: kinh nghiệm từ một số nước và viễn cảnh của Việt Nam do Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Nghiên cứu lập pháp của UBTVQH tổ chức tại Vĩnh Yên, ngày 28 – 30.9.2011, trang 23, 26.

7. Việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân. Ts. Nguyễn Tất Viễn, CN. Lê Thu Hương. Bài tham luận tại cuộc Hội thảo về các quan điểm về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 9.3.2002, trang 1.

8.  Xem 12 Hiến pháp ở châu Âu. Tài liệu tham khảo phục vụ Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII do tổ nghiên cứu đổi mới kinh tế, xã hội và hành chính của Thủ tướng Chính phủ biên dịch. Hà Nội, tháng 2.1997, trang 15, 19.

___________________

SƠ ĐỒ MÔ HÌNH 1:

 
Ts Vũ Đức Khiển
Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang