DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 19:53 | 24/07/2014 (GMT+7)
.
Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992

Hoàn thiện những quy định về phân công, phối hợp, kiểm soát trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội

07:57 | 16/02/2012
Cho đến nay, về cơ bản trong lý thuyết cũng như thực tế, Việt Nam chưa giải quyết được một cách thấu đáo, rõ ràng mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp; giữa QH và Chính phủ. Bởi vì trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, mặc dù có phân công, phân nhiệm giữa 3 quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhưng về cơ bản tập quyền vẫn là nguyên tắc chủ đạo, quyền lực nhà nước tập trung chủ yếu ở QH. Đây là nội dung quan trọng được đề cập tới trong Báo cáo Tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 của Chính phủ.

Phân công, phối hợp, kiểm soát chưa hợp lý

Theo đánh giá của các chuyên gia, những quy định về sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa Chính phủ và QH trong việc thực hiện quyền lập pháp và hành pháp đã được luật hóa. Theo đó Chính phủ được phân công nhiệm vụ trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước QH và UBTVQH; ban hành Nghị định, Thủ tướng Chính phủ được ban hành quyết định, chỉ thị; QH thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và các Nghị quyết của QH, trong đó có giám sát việc ban hành văn bản QPPL của Chính phủ, có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Với tư cách là cơ quan chấp hành của QH, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là hoạch định chính sách mà là thực hiện các chính sách do QH quyết định. Quy trình xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã từng bước được cải tiến theo hướng cụ thể, gắn kết hơn với việc thực hiện chức năng giám sát và yêu cầu thực tiễn. Yếu tố hiệu quả, hiệu lực trong các quyết định của QH đối với các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng được chú trọng, gắn kết chặt chẽ hơn với việc thực hiện chức năng giám sát.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 1992 đến nay, QH đã thông qua hơn 300 luật, pháp lệnh cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó chủ yếu là các luật do Chính phủ soạn thảo và trình QH thông qua; số lượng luật ban hành có xu hướng tăng qua các nhiệm kỳ QH. Đặc biệt, đã có những điều chỉnh phù hợp, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, nổi bật là tư duy lập pháp theo các định hướng dài hạn (chiến lược, chương trình) và được điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu điều hành thực tế.

Tuy nhiên, do Hiến pháp đang đồng nhất quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ làm “Hiến pháp”, “làm luật” do đó dẫn đến cách hiểu QH thực hiện quyền lập hiến, lập pháp bằng việc tự mình làm ra hiến pháp, luật. Trong khi đó, nếu hiểu làm luật là toàn bộ những hoạt động để làm nên một đạo luật thì QH không phải và cũng không thể là cơ quan duy nhất thực hiện quyền lập pháp. Ở nước ta, đại đa số các dự án luật do Chính phủ trình, phần còn lại do các chủ thể sáng quyền lập pháp khác trình. Lý giải thêm về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên cho rằng, do chưa chuẩn xác về phân công và phối hợp giữa QH và Chính phủ trong thực hiện quyền lập pháp nên dẫn đến hai khả năng có thể xảy ra. Nếu việc làm luật là nhiệm vụ của QH thì việc Chính phủ soạn thảo, trình dự án luật chỉ là công việc có tính hỗ trợ tạo điều kiện để QH thực hiện nhiệm vụ của mình. Còn nếu coi đó là cách thức phối hợp của Chính phủ trong hoạt động lập pháp thì dẫn đến sự tùy ý của QH, sự thụ động, chờ đợi của Chính phủ trong việc phân công của QH. Đó là chưa tính, hiện thiếu cơ chế để Chính phủ bảo vệ các dự án luật do mình trình, trong trường hợp có sự thay đổi dự án mà từ góc độ hành pháp, Chính phủ thấy khó thực hiện.

Ở khía cạnh thực hiện quyền hành pháp thì cũng thấy được sự chưa rành mạch, hợp lý giữa QH và Chính phủ trong việc hoạch định chính sách quốc gia. Điều này dẫn đến tình trạng QH làm thay Chính phủ trong việc hoạch định và quyết định các chính sách quốc gia (Quyết định kế hoạch KT-XH của đất nước...); có những nhiệm vụ, quyền hạn đối với hệ thống hành chính được giao cho cả QH và Chính phủ thực hiện theo phương thức “phân cấp quản lý”, trong khi đối tượng quản lý là một thể thống nhất (xác lập địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh thuộc thẩm quyền của QH và cấp dưới thuộc Chính phủ). Hoạt động giám sát tối cao của QH đối với hoạt động hành pháp chưa đủ hiệu lực kiểm soát trên thực tế do quy định của Hiến pháp về đối tượng, nội dung giám sát quá rộng so với tổ chức, năng lực hoạt động của QH. Cho đến nay, QH chưa ban hành một nghị quyết nào tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản QPPL; chưa thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do mình bầu ra hoặc phê chuẩn; rất ít tổ chức điều trần tại các Uỷ ban dựa trên kết quả giám sát tối cao.

Mối quan hệ giữa các cơ quan khi thực hiện quyền 

Hiện các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật đều chưa xác định rõ nội dung của quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và chưa phân công rành mạch cơ quan nào chịu trách nhiệm thực hiện mỗi nhánh quyền. Chính vì thế, kiến nghị quan trọng nhất chính là hoàn thiện nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo hướng làm rõ nội dung, chủ thể thực hiện mỗi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong khi thực hiện quyền lực nhà nước. Cụ thể, quyền lập pháp do QH thực hiện là quyền ban hành luật; quyền hành pháp do Chính phủ thực hiện là quyền hoạch định, điều hành chính sách, tổ chức thi hành và quản lý xã hội bằng pháp luật; quyền tư pháp do Tòa án thực hiện quyền xét xử theo pháp luật. Tất cả các cơ quan nhà nước dù thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều là cơ quan quyền lực, không có cơ quan nào nắm giữ tập trung và thực thi toàn bộ quyền lực nhà nước. Chẳng hạn, đề nghị sửa theo hướng QH xem xét, quyết định thông qua các dự án luật (vì QH không trực tiếp làm luật, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH thẩm tra dự án luật, QH thảo luận, cho ý kiến thông qua dự án luật do Chính phủ soạn thảo và trình QH). Bên cạnh quyền trình dự án luật, đề nghị bổ sung quyền ban hành văn bản pháp quy của Chính phủ như một nhiệm vụ, quyền hạn độc lập của chức năng hành pháp; đồng thời phân định lại rõ hơn, hợp lý hơn quyền của QH, Chủ tịch Nước và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế theo hướng phù hợp hơn với vị trí của mỗi chủ thể (QH phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch Nước ký; Chính phủ phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ…).

Để phù hợp với vị trí hành pháp của Chính phủ, các chuyên gia pháp lý cũng đã đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng Chính phủ quyết định những chính sách cụ thể, giải pháp mang tính ứng phó nhanh, chủ động trong điều hành kinh tế, tài chính, tiền tệ và ngân sách trong các tình huống cụ thể, quyết định các kế hoạch KT-XH gắn với các chỉ tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển ngắn (hàng năm); đồng thời bổ sung quy định QH thông qua các chính sách và quyết định về các vấn đề quan trọng của đất nước bằng hình thức luật.

Ngoài cơ chế kiểm soát hiện hành của QH đối với Chính phủ (không thông qua luật, pháp lệnh, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình; giám sát tối cao hoạt động của Chính phủ…) cần bổ sung thêm một số nội dung như: quyền giám sát tối cao của QH đối với việc thực thi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; thay thế cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do QH bầu, phê chuẩn bằng cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm... Đặc biệt, hiện nay Chính phủ không có cơ chế nào để kiểm soát hoạt động lập pháp của QH, kể cả cơ chế tự bảo vệ quyền trình hay không tiếp tục trình dự án luật khi các nội dung chính sách trong dự án luật đã bị sửa đổi quá khác so với phương án của Chính phủ, chính vì thế cần bổ sung quyền rút lại dự án luật của Chính phủ; quyền của Chủ tịch Nước, tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, đề nghị QH xem xét lại đạo luật đã được thông qua, giống như thẩm quyền của Chủ tịch Nước đề nghị UBTVQH xem lại pháp lệnh đã được quy định tại Hiến pháp hiện hành.

Phạm Thanh Hải
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang