DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 08:41 | 29/11/2014 (GMT+7)
.

Hồ Chí Minh, dân tộc và nhân loại

08:34 | 17/05/2012
Thường kính cẩn nghe HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN – ĐBQH, PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, TIẾN SĨ KHOA HỌC – nói về vô ngã, trong nhiều lần chuyện trò, sự uyên bác của Hòa Thượng không dừng lại ở hai cái tên Đức Phật và Hồ Chí Minh, nhưng đó là hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất... Chúng tôi tự sự:
- Thưa Hòa Thượng, lần này chúng ta đề cập tới một vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có – Hồ Chí Minh tồn tại trong mỗi con người Việt Nam yêu nước, trong sự nghiệp của chúng ta, trong đời thường và cả trong đức tin Phật giáo… thưa Hòa Thượng, có thể nêu nhận xét ngắn gọn nhất về Người?

- Đề cập đến Hồ Chí Minh là một vấn đề rất khó, đúng như nhận định: “...chúng ta đề cập đến vấn đề khó, không phải để nhìn lại, không phải làm sáng tỏ hơn mà tự sự về cái chúng ta thường có...”. Ở đây, tôi đề cập đến Người chỉ vì lòng ngưỡng mộ, dù nhận thức và ngôn ngữ của mình có hạn chế đến mức nào đi chăng nữa.

Nhận xét ngắn gọn nhất về Người thì thông thường nhiều người nói: “Người là nhà yêu nước vỹ đại”, “Người là một nhà lãnh đạo thiên tài”, hay là “Người là một nhà văn hóa tỏa sáng”.v.v... Phát biểu ngắn gọn thế nào về Người tôi cũng cảm thấy có cái gì thiêu thiếu, có một cái gì bị đánh mất, hoặc giả có cái gì trống trải làm sao ấy! Một lần, trên báo Đại Biểu Nhân Dân, tôi đã viết:

- Năm 1926, năm Người 36 tuổi, đã vạch ra 12 điều của một mẫu mực cách mạng, trong đó điểm thứ nhất và thứ hai nói rằng:


Tượng đức phật ở Bồ Đề đạo Tràng, mặt quay về hướng đông đúng tư thế khi người giác ngộ                                      Ảnh: Thăng Long

Điểm 1: Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại.

Điểm 2: Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm Tổ quốc trên hết ở mọi nơi và mọi lúc.

- Năm 36 tuổi, Người đã đầy lòng vong ngã, vị tha, đầy lòng cứu dân, cứu nước, cứu nhân loại, tâm thức không còn chỗ đứng cho các ý niệm về “tôi”, “của tôi”. Tâm thức ấy là đất hứa của nghìn sáng tạo chấp nối thành các thành quả của cách mạng Việt Nam cận đại và hiện đại...

Nay thì tôi nói thêm: Người là một trí tuệ lớn, một nguồn tâm lớn, cần nhìn rõ Người qua nhiều khía cạnh: quốc gia và quốc tế; văn hóa và giáo dục; chính trị và xã hội, mới có thể có phát biểu có giá trị gần gũi với Người. Để khách quan hơn, tôi xin trích dẫn thêm một vài đoạn ngắn trong phần kết của tập Hồ Chí Minh (New York, 2001), do William Duiker biên soạn (suốt hơn 40 năm về Người) rất giá trị:

“…không thể phủ nhận rằng sự nghiệp mà ông Hồ Chí Minh đã thúc đẩy và chỉ đạo đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong thế kỷ XX, thể hiện đỉnh cao của thời đại Giải phóng Dân tộc ở thế giới thứ 3 và lần đầu tiên người ta công nhận rõ ràng những giới hạn của chính sách Hoa Kỳ về kiềm chế chủ nghĩa Cộng sản. Sau Việt Nam, thế giới sẽ không bao giờ như cũ nữa”.

“Ông Hồ Chí Minh không những là người sáng lập ra Đảng của mình và sau đó là Chủ tịch nước mình mà Ông còn là nhà chiến lược chủ yếu và biểu tượng gây truyền cảm nhất của Việt Nam. Một nhà tổ chức có tài và một nhà chiến lược khôn ngoan và một lãnh tụ có sức lôi cuốn quần chúng, ông Hồ Chí Minh là một nửa Lê Nin và một nửa Gandhi, và là một sự phối hợp đầy năng động”.

“Như vậy, như câu nói đáng ghi nhớ của một triết gia Hoa Kỳ, Sidney Hook, ông Hồ Chí Minh là “Người tạo ra thời thế”, một “người con của khủng hoảng” đã kết hợp trong con người của mình hai trong số các sức mạnh trung tâm của lịch sử Việt Nam hiện đại: mong muốn độc lập dân tộc và tìm kiếm công bằng xã hội và kinh tế… Bất kể có sự phán xét như thế nào đối với di sản của ông, ông đã có chỗ trong Lăng các nhà anh hùng cách mạng đã đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có thể nói lên tiếng nói đích thực của mình”.

Cá nhân tôi, tôi chỉ biết nghiêng mình trước trí tuệ, tấm lòng vời vợi, nghị lực phi thường chiến đấu thắng mọi gian khó của Người. Người sẽ vĩ đại hơn thế, nếu đất nước Việt Nam lớn hơn ba mươi lần hiện tại! Vĩ đại và đầy kính mến!...

- Tôi nhớ, và Hòa Thượng cũng thường nhắc một nhận định của W. Duiker trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001), là vào năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận xét: phải bổ sung vào chủ nghĩa Marx chủ nghĩa yêu nước để chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu âu mà còn đúng ở phương Đông nữa. Có thể vin vào điều này mà nhiều học giả phương Tây cho rằng, Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa. Hòa Thượng có thể cho biết ý kiến riêng của mình được không?

- Đúng như W. Duiker đã viết trong tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001): Hồ Chủ tịch đã bổ sung vào chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa yêu nước, và đối tượng mà quốc tế vô sản đấu tranh không chỉ giải phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng giai cấp nông dân ở Á, Phi nữa. Và đúng như nhận định của Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, trong Hồ Chí Minh toàn tập: (Tập II, chương XI) đã viết:

“Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Marx - Lê nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay”.

W. Duiker, trong chương “Tập làm cách mạng”, đã viết về Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – theo lập luận của tác phẩm Hồ Chí Minh (New York, 2001) với các đoạn:

“…Nông dân bị áp bức nặng nề và nếu được tổ chức, họ có một tiềm năng cách mạng lớn. Nhưng nguồn hoạt động chính trị chủ yếu là các trí thức và nho sĩ yêu nước. Theo Anh (Nguyễn Ái Quốc), chính họ là những người đã gây ra tất cả các cuộc nổi dậy trong quá khứ. Vì vậy, điều cần thiết trước mắt là phải xây dựng hành động chung giữa các nhà yêu nước “cách mạng dân tộc” đó và một đảng Cộng Sản…”.

“…Anh Quốc khẳng định rằng Commitern chỉ có thể trở thành một Quốc tế Cộng sản thực sự khi nó bao gồm cả các đại diện nông dân châu Á trên tư cách là những người tham gia tích cực.

Vào cuối hội nghị, những người tổ chức đã nhất trí lập một Quốc tế Nông dân mới, gọi là Krestintern… phối hợp thực hiện khẩu hiệu xây dựng một chính quyền Công -  Nông…”.

“…Vai trò của giai cấp nông dân cũng rất ít được quan tâm. Sau một sự khởi đầu mạnh mẽ, Krestintern đã bị thất sủng và không còn được coi trọng bởi các phần tử quan liêu và viên chức Mátxcơva có tư tưởng thiên về giai cấp Công nhân… Nguyễn Ái Quốc đã cố gắng duy trì sức sống cho vấn đề này, và đã phát biểu về vấn đề nông dân tại một cuộc họp của Krestintern vào tháng 6.1924, nhưng ít được hưởng ứng. Khi nói chuyện với một người bạn, anh Quốc đã cười và đã tự ví mình là tiếng than trong bãi sa mạc”.


Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Marx không chỉ đúng ở châu Âu mà còn phải đúng ở phương Đông nữa
Về sau Hồ Chủ tịch phải trải qua một thời gian chịu “vất vả, lận đận” vì bị nhiều lãnh tụ quốc tế nghi ngờ Người theo chủ nghĩa dân tộc mà không hẳn là chủ nghĩa vô sản…

Ngày nay, thật tỉnh táo chúng ta thấy rằng ý kiến đề đạt của Nguyễn Ái Quốc đến Commitern là rất là trí tuệ và rất là Cộng sản Quốc tế bởi các lý do:

Quốc tế vô sản sẽ được mở rộng qua Á, Phi - nơi có nhiều dân tộc bị trị - với thành phần quần chúng đông đảo chiếm hơn 80% dân số các nước là nông dân làm hậu thuẫn sẽ tạo nên một sức mạnh vô song cho Quốc tế vô sản, sẽ dễ dàng chiến thắng Tư bản.

Nếu với lực lượng đông đảo nông dân ấy bất hợp tác (và cả chống đối) với các nước tư bản, không làm giàu cho Tư bản thì Tư bản sẽ yếu đi nhiều; cách mạng sẽ cắt đứt đi cái vòi “bạch tuộc” của Tư bản, sẽ dễ dàng đánh bại Tư bản.

Giải phóng cả giai cấp nông dân bị trị thì mới đúng với ý nghĩa giải phóng các giai cấp bị Tư bản thống trị. Bấy giờ chính nghĩa của Quốc tế Cộng sản càng tỏa sáng lòng nhân ái, tỏa sáng ý nghĩa chống bất công áp bức.

Thế giới là một sự tương quan bất khả phân ly giữa cá thể và tập thể, giữa quốc gia và quốc tế, vì thế sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế là vô cùng thuận tình, thuận lý, và thuận cả sách lược.

Đối với thanh niên Nguyễn Ái Quốc, sự kết hợp trên là sự kết hợp đẹp đẽ giữa sứ mệnh giải phóng đất nước và sứ mệnh giải phóng các giai cấp bị trị của Quốc tế Cộng sản.

Thật đáng tiếc là Quốc tế Cộng sản đã giác hiểu sáng kiến đề đạt của thanh niên Nguyễn Ái Quốc khá muộn, quá muộn, một sáng kiến độc chiếu lúc bấy giờ!

- Một triết gia vĩ đại, hay một nhà thực hành vĩ đại thì ngay trong cái nhỏ bé của thường ngày cũng vẫn có tầm vóc nhân loại. Hơn nữa, vấn đề yêu nước là phạm trù lớn, thưa Hòa Thượng?

- Thế giới có một mối liên hệ chằng chịt giữa các hiện hữu. Va chạm đến vấn đề cá nhân thì liền va chạm đến cộng đồng – cộng đồng địa phương, dân tộc và nhân loại –, va chạm đến thiên nhiên, xã hội. Vì vậy tư tưởng của các triết gia, chưa nói đến triết gia vĩ đại, các nhà hành động lớn thường đi vào phổ quát của vấn đề nhân sinh, nhân loại từ một vấn đề cá nhân bình thường. Với các nhà thơ, nhà văn cũng thế: cảm xúc luôn đi vào phổ quát. Nói đến thân phận Thúy Kiều, Nguyễn Du đi vào thân phận của kiếp người:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau...”

Khó mà tách cá thể ra khỏi cộng đồng, khó mà tách vấn đề yêu nước khỏi vấn đề yêu nhân loại. Cũng vậy, khó mà tách rời vấn đề công – nông của nước nhà và thế giới. Hồ Chí Minh lên đường cứu nước, thoạt đầu là vì dân tộc, nhưng khi đụng chạm với quốc tế thì liền nối kết ngay với vấn đề công – nông thế giới. Theo tài liệu của CRN (www.cercledereflexion), “Thanh niên Nguyễn Tất Thành đến Paris liên hệ với tổ chức kín “Tam Điểm” năm 1919 và gia nhập đại đường Benjamin Franklin tại Thụy Sĩ” (đây là một tổ chức nhân bản và khát vọng chân lý chống lại với mọi chủ trương xâm lược, bóc lột, đàn áp). Sau đó, năm 1926, Người đã viết một trong mười hai điều mẫu mực cách mạng rằng: “Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”. Nếu từ chủ trương bổ sung chủ nghĩa yêu nước vào phong trào Quốc tế Cộng sản mà kết luận Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa dân tộc (nghĩa là không quốc tế) là một tư duy máy móc và thiển cận. Chỉ những ai thiếu tâm hồn yêu con người yêu đất nước thật sự mới có thiển kiến ấy, bởi vì họ không có trải nghiệm về tình yêu. Huống nữa, với trí tuệ, nêu vấn đề dân tộc thì dễ xúc tiếp với quần chúng, dễ tác động quần chúng hơn là vấn đề quốc tế sâu xa và khá mơ hồ đối với họ. Chân lý vẫn đứng về phía Nguyễn Ái Quốc.

- Một nghịch lý từ kinh nghiệm làm việc, thường thì sự phối hợp giữa việc chung và việc riêng hay có độ vênh. Đây là hai vấn đề lớn, vấn đề dân tộc gần hơn và vấn đề giai cấp mang tính toàn cầu hơn. Lựa chọn phối hợp chắc chắn cũng không phải là việc dễ ngay cả đối với vỹ nhân, thưa Hòa Thượng?

- Vấn đề phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc chung và việc riêng là vấn đề của trí tuệ, vấn đề của tâm lý đã được huấn luyện, và là vấn đề của nghệ thuật. Ở mặt nhận thức thì dễ thực hiện hơn là thực tế, bởi trên thực tế phải đối mặt với nhiều khác biệt về vấn đề tập quán nhận thức và hành động. Văn hóa phương Tây và văn hóa Trung Quốc thường xác định quá rõ ràng từng cá thể trong đó có cá thể của cá nhân và cá thể cộng đồng. Ở đó, rất khó hành xử cho các nhà tư tưởng lớn và hành động lớn. Như  Hồ Chí Minh – bấy giờ là Nguyễn Ái Quốc – đã từng ví mình “là lời than giữa sa mạc” khi không thể thuyết phục được tập thể chấp nhận sự phối hợp giữa chủ nghĩa quốc tế với chủ nghĩa yêu nước. Vượt qua được trở ngại này, đòi hỏi có một trí tuệ lớn, một nỗ lực lớn, và cả với một cơ duyên lớn.  Nguyễn Ái Quốc đã buông lời than, thì thường tình như ta còn có thể làm gì được hơn thế. Chỉ còn lại một trường hợp duy nhất có thể thực hiện là khi văn hóa của nhân loại cùng nhất trí rằng cái chung và cái riêng, cá nhân và tập thể là các thực thể cộng sinh, cộng tồn, không có tách ly và không có mâu thuẫn. Thì bấy giờ đề đạt của Nguyễn Ái Quốc hẳn là được tập thể Commitern hoan hỷ đón nhận, và W.Duiker đã không phải ghi lại lời than ấy.

- Xin Hòa Thượng đề cập thêm một chút về đức hy sinh, có phải cứ thực hành học thuyết là phải hy sinh hay không? Bài học của Đức Phật và bài học của Hồ Chí Minh về đức hy sinh là gì? Có điểm gì giống và khác nhau thưa Hòa Thượng?

- Trước hết từ hy sinh có nghĩa là tự nguyện nhận về mình một sự mất mát nào đó, bao gồm cả thân mạng, vì phục vụ cho tha nhân, tập thể, tổ quốc hay nhân loại. Đấy là nghĩa từ. Trên thực tế, nhiều trường hợp gọi là hy sinh mà thật ra không phải là một sự hy sinh: nó đánh đổi giá trị này bằng một giá trị khác cao đẹp hơn, lợi ích hơn, cao thượng hơn, hay hạnh phúc hơn. Một người từ bỏ niềm vui cá nhân để phục vụ bố mẹ, chăm sóc gia đình, hay để làm việc công ích, người ấy trên thực tế không hy sinh gì cả, mà là đang sống với niềm vui lớn hơn, hạnh phúc hơn. Ở đây, từ hy sinh bị phá sản.

Trường hợp Hồ Chủ tịch, rũ bỏ tất cả đời sống riêng tư (tuổi trẻ, tuổi thành niên và tuổi người lớn) để theo đuổi chỉ một mục đích: tìm đường cứu dân, cứu nước. Người đời nói rằng Người đã hy sinh tất cả vì tổ quốc, nhân dân. Trên thực tế đó là hành động chọn lựa của một vỹ nhân, sống với tâm hồn cao thượng và hạnh phúc cao thượng mà không có một ý nghĩa nào hy sinh ở đây cả. Từ hy sinh ở đây trở thành trống rỗng, bởi vì đó là sự hành xử của một vỹ nhân, một bậc trí tuệ và nhân ái. Sự hy sinh không làm thành một vỹ nhân, mà sự hành xử trí tuệ, nhân ái (yêu nước, yêu con người) mới làm nên vỹ nhân. Người là một nhà cách mạng trí tuệ trọn đời sống để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước bị trị, và để xây dựng công bằng xã hội. Ở đây, nếu nói hy sinh thì sẽ tầm thường hóa một nhân cách lỗi lạc. Nhân cách lỗi lạc sống như thế, hạnh phúc như thế, và được người đời (nhân dân) ngưỡng mộ, tôn kính như thế.

Với đức Phật, đức Phật không chỉ rũ bỏ đời sống riêng tư, mà còn rũ bỏ cả ngôi báu (ngai vàng), rũ bỏ triều đình, cung phi mỹ nữ, và rũ bỏ cả nhân dân “khốn khó”, của đất nước của Ngài vì lòng thương tưởng muốn cứu độ nhân dân, nhân loại, chúng sinh khỏi nỗi khổ nghìn đời của sinh, già, bệnh, chết để đi tìm đạo giải thoát khổ mà Ngài tin nhất định có (có khổ sinh ắt hẳn có khổ diệt). Ở đây Ngài không hy sinh gì cả, mà chỉ đi trên con đường của một vỹ nhân giải thoát, đấng giác ngộ, đi đến chân hạnh phúc của chân giải thoát. Người đời, về sau, tôn xưng và đảnh lễ Ngài là đấng giác ngộ, đấng đại hùng, đại lực, đại từ bi; tôn xưng và đảnh lễ niệm ân Ngài vì Ngài đã giới thiệu một nếp sống Giới, Định, Tuệ vượt qua mọi ưu, bi, khổ, não ở đời. Người đời không tôn xưng và đảnh lễ vì Ngài đã “hy sinh” vương vị.

Hai bậc vỹ nhân có điểm tương đồng ở chỗ rũ bỏ trần gian, rũ bỏ đời sống riêng tư để theo đuổi lý tưởng cao thượng của mình. Hai bậc vỹ nhân khác nhau ở điểm: một đi vào cuộc cách mạng xã hội đầy thị phi, truân chuyên; một đi vào cuộc cách mạng tâm linh, giải thoát, con đường chiến thắng tự ngã để đi vào giải thoát toàn triệt. Một thuộc “trần thế”, một thuộc “xuất thế”. Thực nghĩa là vậy. Nếu một người cán bộ, chiến sĩ cách mạng thấy rằng mình đang chịu (hay bị) hy sinh thì hẳn không phải là một cán bộ, chiến sĩ cách mạng thực thụ (chỉ nửa vời). Nếu một tu sĩ thấy mình hy sinh đời sống gia đình, thì ắt hẳn không phải là một vị chân tu. Ý nghĩa là thế.

Từ nguồn hạnh phúc cao thượng của các bậc vỹ nhân, ta có thể rút ra một bài học có ý nghĩa: có hai nguồn hạnh phúc: một thuộc về vật chất đến từ sự thỏa mãn liên hệ đến tai, mắt, mũi, lưỡi, và thân; một thuộc về tinh thần là hạnh phúc do tâm lý cảm nhận; hạnh phúc tinh thần bao giờ cũng có nguồn rung động cao hơn nhiều so với hạnh phúc đến từ vật chất. Hạnh phúc cao thượng nhất là hạnh phúc giải thoát. Trung thành thực hành lý tưởng bao giờ cũng đón nhận được nguồn hạnh phúc cao cả như là phần tưởng thưởng. Nguồn hạnh phúc tâm lý luôn là nguồn vị tha, vì tha nhân và cộng đồng: Càng vong ngã, càng hạnh phúc: đây là kinh nghiệm từ con đường tu tập giải thoát của nhà Phật. Vong ngã vị tha là nếp sống của trí tuệ, mà không phải là một sự hy sinh. Đây là bài học đòi hỏi trải nghiệm.

- Xin chân thành cảm ơn Hòa Thượng!

Thăng Long thực hiện
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang