DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 08:24 | 18/09/2019 (GMT+7)
.

Bám sát mục tiêu QH đã quyết định để giám sát có hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ

08:37 | 15/10/2012
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô và là một chính sách kinh tế tổng hợp có liên quan nhiều đến các chính sách vĩ mô khác. Đây là một lĩnh vực chuyên môn sâu và phức tạp

Điều 3, Luật Ngân hàng Nhà nước đã quy định về chính sách tiền tệ quốc gia và vai trò, thẩm quyền của QH, Chính phủ đối với việc quyết định chính sách tiền tệ quốc gia. Theo đó, chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm việc quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Vai trò của QH được xác định rõ là: QH quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Chính phủ có nhiệm vụ trình QH quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm; Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Có thể mô tả một cách cụ thể những nội dung chính của Điều 3, Luật Ngân hàng Nhà nước như sau: thứ nhất, chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước để quyết định các vấn đề về tiền tệ, trong đó quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền được thể hiện qua chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Thứ hai là vai trò và trách nhiệm của QH trong việc xem xét chính sách tiền tệ quốc gia bao gồm 2 việc lớn: quyết định chỉ số giá tiêu dùng hàng năm và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Thứ ba là vai trò và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc NHNN Việt Nam được thể hiện trên các vấn đề sau: Chính phủ phải tính toán và trình QH quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm; quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để QH quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm một cách hợp lý?

Quyết định của QH về chỉ tiêu lạm phát hàng năm liên quan trực tiếp đến việc QH có giám sát hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia hay không. Có thể nói ngay rằng, QH không có đủ thông tin và cơ sở để tự tính ra chỉ số lạm phát của năm kế hoạch. Vì đó không phải là chức năng của QH và QH cũng không đủ điều kiện để tính toán, xác định một cách cụ thể chỉ số lạm phát của năm kế hoạch. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là QH sẽ bị động trước các chỉ tiêu mà Chính phủ trình. QH vẫn có thể và có khả năng phân tích để chuyển từ thế bị động sang chủ động quyết định một cách chính xác các chỉ tiêu mà Chính phủ trình.

Vậy QH nên làm gì trước khi quyết định chỉ tiêu lạm phát cho năm kế hoạch?

Các Ủy ban của QH và các ĐBQH cần phân tích những nguyên nhân gây ra lạm phát của năm báo cáo, dự báo các tình huống có thể xảy ra trong năm kế hoạch để có thể thảo luận về chỉ tiêu lạm phát được Chính phủ trình QH. Nhiệm vụ của các ĐBQH và các cơ quan của QH là phải phân tích một cách chính xác các nguyên nhân của lạm phát trong năm trước và dự kiến các khả năng có thể xảy ra trong năm sau để có thái độ nhìn nhận khách quan về mục tiêu lạm phát của năm kế hoạch. Ví dụ, mục tiêu chỉ số lạm phát năm 2011 được Chính phủ trình và được QH thông qua là 7%, nhưng trên thực tế, trong năm 2011, Chính phủ đã phải điều chỉnh mục tiêu lạm phát đến 3 lần: tháng 5.2011 điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên 15%; tháng 7.2011 điều chỉnh lên 17%, tháng 8.2011 mục tiêu lạm phát được điều chỉnh lên 18% và thực tế là đến tháng 12.2011, chỉ tiêu lạm phát ở mức 18,13%. Qua ví dụ điển hình cho việc xác định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền và kiểm soát lạm phát này, có thể thấy, hình như QH chưa phân tích cụ thể những nguyên nhân tại sao lạm phát năm 2010 lại cao hơn năm 2009 (lạm phát năm 2010 là 11,75% và lạm phát năm 2009 là 6,8%) và phân tích trong năm 2011 sẽ có những yếu tố gì sẽ tác động đến lạm phát?

Phân tích nguyên nhân lạm phát năm 2010 sẽ thấy: thứ nhất, giá các mặt hàng xăng dầu, điện, than trong năm 2011 có xu thế ổn định không hay là vẫn có yêu cầu tăng? Thực tế ngay từ tháng 3.2011 giá các mặt hàng được điều chỉnh tăng liên tục và dồn dập. Báo chí gọi đó là cú sốc liên tiếp khơi mào cho lạm phát khi mà ngay từ đầu năm tỷ giá đã tăng 9,3% vào tháng 2, xăng tăng 17% từ tháng 2 và điện tăng 15,2% từ ngày 1.3. Thứ hai là yếu tố tỷ giá có ổn định hay không? Nhìn nhận xu thế thị trường của năm 2010 để suy đoán cho năm 2011 sẽ thấy, cuối năm 2010 áp lực điều chỉnh tỷ giá rất lớn, quan hệ cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng thẳng, tỷ giá thị trường tự do luôn luôn cao hơn tỷ giá chính thức... Với áp lực của thị trường như vậy thì năm 2011 tỷ giá không thể đứng yên. Và thực tế, ngày 11.2.2011 tỷ giá đã được điều chỉnh tới 9,3%. Tỷ giá tăng làm cho giá hàng nhập khẩu tăng, chi phí cho sản xuất tăng và tất yếu sẽ đẩy giá tăng. Thứ ba là tình hình giá cả của hàng hóa trên thị trường thế giới sẽ tăng hay giảm? Năm 2011, xu thế tăng giá của thị trường thế giới vẫn rất lớn sẽ ảnh hưởng tới giá của các nguyên vật liệu đầu vào của hàng hóa nước ta. Và thực tế trong năm 2011, mức tăng này trung bình là 24%, xăng dầu tăng 41,5%, bông tăng 110%, kim loại tăng 110%. Thứ tư là tình hình lạm phát của các nước xung quanh cao hay thấp và có ảnh hưởng gì đến Việt Nam không? Thứ năm là tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam như thế nào, chặt chẽ hay nới lỏng? Bội chi ngân sách ở mức bao nhiêu phần trăm GDP? Tốc độ tăng trưởng tín dụng có hợp lý không? Thứ sáu là mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thực tế có sự phối hợp tốt không?

Năm 2011, Nghị quyết 11 của Chính phủ yêu cầu chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ phải thắt chặt. Nhưng khi thực hiện thì chính sách tiền tệ được thắt quá chặt với các chỉ tiêu đặt ra là tín dụng chỉ được tăng dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán chỉ được tăng trưởng 15 – 16% và thực tế thực hiện của năm 2011 thì tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 10%, tín dụng tăng 12%. Trong khi đó, Nghị quyết 11 cũng yêu cầu chính sách tài khóa phải thắt chặt: giảm đầu tư công, tiết giảm chi thường xuyên khoảng 10%; thực tế kết quả giảm đầu tư công và tiết kiệm chi tiêu ngân sách đạt được rất hạn chế. Như vậy sự thiếu đồng bộ giữa hai chính sách này cũng làm cho hiệu quả kiểm soát lạm phát bị hạn chế.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng nên xác định ở mức độ tăng trưởng hợp lý: không quá nóng và cũng không quá nguội. Tốc độ này tăng bao nhiêu là hợp lý thì phải tùy thuộc và khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước còn nhiều hay ít? Hơn nữa nó còn phụ thuộc vào quan điểm có để dành tài nguyên này cho thế hệ mai sau không? Khả năng tích luỹ, khả năng tài chính của đất nước ra sao? Nếu đầu tư cộng với chi tiêu của Chính phủ lớn hơn khả năng tích luỹ và năng lực tài chính thì sẽ phải bội chi lớn, phải vay nợ nhiều. Vì vậy, cần xác định mức bội chi hợp lý. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, bội chi ngân sách nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP là mức hợp lý nhất, không gây áp lực cho lạm phát và bảo đảm tăng trưởng có hiệu quả, bền vững. Thực tế trong nhiều năm đầu đổi mới nước ta đã đạt được mức bội chi xoay quanh 3% GDP. Vì vậy, nếu mục tiêu tăng trưởng không được đặt ra quá cao thì sẽ giúp giảm bội chi ngân sách và không gây áp lực cho lạm phát. Giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát phải tìm ra được điểm cân bằng: vừa tăng trưởng vừa kiểm soát được lạm phát.

Bên cạnh chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, QH cũng cần phải phân tích thêm về chính sách thương mại, cán cân thương mại, nhập siêu để thấy được những tác động của thương mại đến thị trường tiền tệ trong nước. Nhập siêu lớn sẽ ảnh hưởng ngay đến cung – cầu ngoại tệ, gây áp lực tới sự phá giá đồng bản tệ dẫn đến tỷ giá không ổn định, thị trường ngoại hối rối ren và ảnh hưởng lớn đến kết quả kiểm soát lạm phát cũng như hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Tất cả những yếu tố trên đây, chúng ta có quyền phân tích và dự báo để thấy rằng, quyết định lạm phát năm 2011 là 7% nhưng thực tế thực hiện lại cách xa so với mục tiêu đề ra, làm giảm ý nghĩa của quyết định quan trọng này. Rút kinh nghiệm của năm 2011, theo tôi, tại Kỳ họp thứ Tư sắp tới, khi thảo luận và quyết định mục tiêu lạm phát của năm 2013, QH cần phân tích tất cả các yếu tố nêu trên để quyết định mục tiêu lạm phát sát với thực tế hơn. Vì khi biểu quyết mục tiêu lạm phát, QH cũng sẽ phải giám sát việc thực hiện mục tiêu đó. Nếu QH quyết định lạm phát 7% mà Chính phủ thực hiện đến 18% thì QH cũng sẽ rất khó khăn trong giám sát việc triển khai thực hiện mục tiêu mà QH đã quyết định.

Làm thế nào để QH giám sát có hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ?

Để giám sát có hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ thì cần bám sát mục tiêu mà QH đã quyết định. Đó là giám sát chính sách tiền tệ, xem xét việc Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức thực hiện mục tiêu đó như thế nào? Câu hỏi này phải luôn được đặt ra trong quá trình giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Để giám sát tốt thì trước tiên, QH và các ĐBQH phải có đầy đủ các thông tin có liên quan để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát có tốt hay không. Sau khi có thông tin thì mới tiến hành giám sát thực tế, tiến hành điều trần và xem xét việc ban hành Nghị quyết về giám sát. Và khâu quan trọng nhất để giám sát có hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ là phải lấy được thông tin. Những số liệu cần phải có là: tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán qua một số năm gần nhất của năm báo cáo để so sánh, phân tích. Lấy thông tin về tốc độ tăng trưởng của tín dụng qua một số năm gần nhất của năm báo cáo để so sánh phân tích. Ngoài ra, cần xem xét đến độ lớn của tín dụng/ GDP để thấy được mức độ của tín dụng, vì nếu tín dụng tăng quá nhiều thì lạm phát cũng sẽ rất lớn. Nếu thấy tổng phương tiện thanh toán tăng quá mức thì ĐBQH, các cơ quan của QH cũng phải phân tích và lên tiếng kịp thời. Lấy thông tin về tốc độ tăng của tổng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng qua một số năm gần nhất của năm báo cáo. So sánh giữa tốc độ tăng của nguồn vốn với tốc độ tăng của tín dụng để thấy hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả không, có nguy cơ mất khả năng thanh khoản không? Cùng với đó, cần xem xét các công cụ mà NHNN đang sử dụng và mức độ sử dụng các công cụ đó để nắm được Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt và đang dùng các biện pháp hành chính hay biện pháp kinh tế là chủ yếu, từ đó có thể phân tích được tại sao lại lạm phát? Xem xét tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng để thấy tác động của chính sách tiền tệ tới việc kiểm soát lạm phát như thế nào? Xem xét nợ xấu của hệ thống ngân hàng qua các năm, phân tích nguyên nhân nợ xấu? Xem xét cách điều hành tỷ giá của NHNN có bảo đảm sự linh hoạt theo tín hiệu thị trường không, có đạt được yêu cầu khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu không? Vì thực tế, tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến lạm phát, nếu tỷ giá bị phá giá nhiều sẽ ảnh hưởng đến chi phí hàng nhập khẩu, làm lạm phát tăng lên, thậm chí có ý kiến đã cho rằng, chúng ta đã nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài thông qua giá cả hàng hóa.

Hiệu quả của chính sách tiền tệ còn phụ thuộc vào chính sách tài khóa, chính sách đầu tư, chính sách thương mại. Vì vậy, trong quá trình giám sát thực hiện chính sách tiền tệ cần nhìn nhận và phân tích hiệu quả của các chính sách tài khóa, chính sách thương mại và chính sách đầu tư để xem các chính sách này tác động như thế nào đến hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Để có được các thông tin nêu trên, các ĐBQH cần làm việc trực tiếp với NHNN và các ngân hàng thương mại hoặc yêu cầu NHNN, các ngân hàng thương mại, Bảo hiểm tiền gửi và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia báo cáo, phân tích tình hình để có được thông tin chính thống, làm cơ sở cho những phát biểu hay ý kiến đóng góp tại nghị trường, tại các phiên họp của Ủy ban. Mặt khác, kinh nghiệm hoạt động cho thấy, các ĐBQH cũng cần làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương để có thêm thông tin về thị trường vốn và thị trường hàng hóa. Trên cơ sở những thông tin có được từ hai thị trường này, ĐBQH kết hợp với thị trường tiền tệ để có thể phân tích một cách sâu sắc và toàn diện nguyên nhân của lạm phát.

Những phân tích nêu trên cho thấy, để thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát của QH đối với việc thực hiện chính sách tiền tệ, các ĐBQH, các cơ quan của QH cần yêu cầu các cơ quan chức năng của Chính phủ báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ sau mỗi quý và tốt nhất là báo cáo tình hình hàng tháng. Đặc biệt, các cơ quan chức năng và bộ phận giúp việc của QH cần thống kê và tổng hợp lại các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô qua các năm, thậm chí qua các tháng trong một năm, kèm theo đó là các phân tích và cập nhật để cung cấp cho các ĐBQH. Những thông tin chính thống này cộng với thông tin thu thập được từ các kênh khác là cơ sở để ĐBQH chuẩn bị cho việc thảo luận, quyết định chính sách tiền tệ. Đây là công việc hết sức quan trọng, bởi các số liệu tự nó đã nói lên tất cả, giúp ĐBQH nhìn nhận vấn đề một cách nhanh chóng và rõ ràng. Các Ủy ban của QH cần lựa chọn các vấn đề để giám sát và có những cuộc họp để thảo luận các chuyên đề về kinh tế, tài chính, ngân sách; tiến hành làm việc với các cơ quan chức năng có liên quan tới các vấn đề mà Ủy ban phụ trách trước khi diễn ra Kỳ họp của QH. Và sau giám sát, các Ủy ban nên đề nghị QH xem xét ban hành Nghị quyết về các vấn đề mà Ủy ban thấy cần thiết và có kế hoạch để theo dõi việc thực hiện Nghị quyết này.

Ts Dương Thu Hương
Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách
P. Thúy lược ghi
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang