DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 11:43 | 30/08/2014 (GMT+7)
.

Cần một Hiến pháp cơ bản và ổn định

08:31 | 22/02/2013
Trong ba khóa làm ĐBQH tôi vẫn phát biểu “QH mạnh sẽ góp phần làm cho Nhà nước mạnh và nói cho cùng là góp phần làm cho Đảng mạnh”. Tôi vẫn nghĩ và mong đợi như thế.
Để Hiến pháp mới ngang tầm với yêu cầu của thời đại và mong đợi của nhân dân, theo tôi dự thảo Hiến pháp cần được gia công thêm nhiều, từ tư duy đến kỹ thuật văn bản. Thà chậm mà tốt, cho đất nước, cho dân tộc.

Về Hiến pháp

Theo các tự điển và bách khoa toàn thư được tham khảo và trích dẫn nhiều hiện nay, Hiến pháp là đạo luật căn bản của một quốc gia quy định chế độ chính trị, các quyền cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Hiểu một cách khác, đối tượng của Hiến pháp của một quốc gia là các quyền cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong chế độ chính trị hiện hành của quốc gia đó.

Hiến pháp còn được gọi là đạo luật cao nhất trong hệ thống luật pháp của quốc gia, nghĩa là các quy định của các luật khác phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Trong Bách khoa toàn thư Larousse, ngoài nội dung đã nêu trên đây, Hiến pháp còn chế định mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước pháp quyền (bộ máy cầm quyền) và công dân (những người dưới quyền quản lý của Nhà nước) nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. Do đó, Hiến pháp còn quy định các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và của công dân.

Bách khoa toàn thư Britannica Universalis ghi nhận: “Hầu như mọi quốc gia đều tuyên bố rằng mình có một Hiến pháp, thế nhưng không phải quốc gia nào cũng hành xử một cách phù hợp với Hiến pháp”. Vì lý do đó, nhiệm vụ bảo hiến được đặt ra.

Hiến pháp cần sự ổn định

Ở hầu hết các nước có hệ thống chính trị đa đảng, cương lĩnh tranh cử của các đảng đều nằm trong khuôn khổ của Hiến pháp hiện hành của nước đó.

Từ năm 1946 đến nay nước ta đã có các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 1992 sửa đổi năm 2001. Nếu tính cả sửa đổi lần này trong năm 2013 thì trong 67 năm qua, Hiến pháp trải qua 6 lần được xây dựng mới hoặc sửa đổi.

Cương lĩnh của đảng cầm quyền mang tính thời gian vì được xây dựng cho một thời kỳ. Trong 26 năm đổi mới, Hiến pháp đã ba lần được thay đổi: xây dựng mới tháng 4.1992, sửa đổi tháng 12.2001 và lần dự kiến sửa đổi này.

Trong 26 năm, bình quân 130 tháng (10 năm, 10 tháng) thay đổi một lần, nhịp điệu gần bằng thời gian hai lần Đại hội Đảng toàn quốc. Và liệu khi nào sẽ thay đổi nữa bởi lẽ sự nghiệp đổi mới còn đang được triển khai?

Nhận xét được nêu lên vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, các luật trong hệ thống văn bản pháp luật được xây dựng phải phù hợp với nó. Hiến pháp thay đổi nhặt, các luật sẽ thay đổi càng nhặt hơn. Hệ quả là khuôn khổ pháp lý của đất nước thiếu sự ổn định cần thiết cho sự phát triển bền vững.

Chính vì vậy, theo tôi một yêu cầu đặt ra cho thay đổi Hiến pháp lần này là: cho dù sửa đổi hay xây dựng mới, Hiến pháp cần đi vào những nội dung cơ bản, quy định rõ ràng để có được sự ổn định cần thiết, huy động được toàn dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh khu vực và thế giới ngày nay.

Dự thảo Hiến pháp đã được công bố để toàn dân góp ý, như sẽ thấy dưới đây, liệu có đáp ứng được yêu cầu này không?

Hiến pháp và nghị quyết: những khác biệt cơ bản

Nhiều bài góp ý với dự thảo Hiến pháp nhận xét rằng trong dự thảo Hiến pháp có khá nhiều đoạn văn được trích ra từ các nghị quyết của Đảng.

Vấn đề không phải chỉ là văn phong mà thuộc phạm trù nội dung.

Trước tiên, nghị quyết của Đảng là một văn kiện để triển khai thực hiện trong khi Hiến pháp là một văn kiện pháp lý cao nhất mà mọi tổ chức cá nhân đều phải tôn trọng và tuân thủ. Đây là sự khác biệt cơ bản cần nhớ để không làm suy giảm tính cơ bản của Hiến pháp.

Thứ  hai, một ngôn từ trong một nghị quyết có  thể được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau và cách hiểu đúng sẽ được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Trong khi đó, trong Hiến pháp mỗi ngôn từ có một nội hàm được xác định rõ, được hiểu thống nhất mang tính pháp lý. Đây là khác biệt cơ bản thứ hai.

Nền kinh tế  thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Điều 54, khoản 1), và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (Điều 2) là hai ví dụ về nội hàm cần được làm rõ trong Hiến pháp.

Có ý kiến còn cho rằng trong khi nền kinh tế (thuộc hạ tầng cơ sở) mới được định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Nhà nước pháp quyền (thuộc thượng tầng kiến trúc) lại được khẳng định xã hội chủ nghĩa. Liệu có phù hợp với cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, một nền tảng tư tưởng của Đảng, hay không?

Thứ ba, một ngôn từ trong một nghị quyết có thể được dùng để thể hiện một đạo lý, một chủ trương của Đảng cần được thực hiện từng bước. Khi đưa cụm từ đó vào Hiến pháp phải có sự cân nhắc đầy đủ, chặt chẽ để đảm bảo tính pháp lý của Hiến pháp. Đây là một khác biệt không kém phần quan trọng.

Xin đơn cử một ví dụ. Khi đưa cụm từ “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”(1) vào Hiến pháp (Điều 19, khoản 1 của dự thảo), cần làm rõ những nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đối tượng này, như quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan dân cử ở trong nước và các nghĩa vụ mà mỗi công dân phải thực hiện.

Những cụm từ cần được cân nhắc trong văn bản

Đọc dự thảo, tôi không thể không chú ý tới tần suất xuất hiện của ba cụm từ: xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa xã hội; nghiêm cấmnghiêm trị; giám sát.

+ Cụm từ “chủ nghĩa xã hội” xuất hiện 3 lần, và cụm từ “xã hội chủ nghĩa” xuất hiện 33 lần, trong đó 24 lần gắn với Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có  cần nhiều khẳng định về chế độ chính trị  đến như vậy không? Điều quan trọng nằm ở nội hàm hơn là danh xưng. Nhắc đến nhiều như vậy có làm vững mạnh thêm khối đoàn kết toàn dân tộc không?

+ Từ “nghiêm cấm” được sử dụng 9 lần trong 11 chương, 124 điều (tần suất xuất hiện 7,38%). Từ “nghiêm trị” được sử dụng 1 lần.

Tuy nhiên hai từ này được sử dụng tập trung vào Chương I, Chế độ chính trị,Chương II, Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với tần suất xuất hiện 8 lần tại 52 điều, 15,6%!

Chưa nói tới ảnh hưởng tâm lý mà hai từ  có thể gây ra, liệu Ban soạn thảo có đặt Hiến pháp vào sân của Luật Dân sự và Luật Hình sự hay không?

Xin lưu ý rằng các từ nghiêm cấmnghiêm trị không tìm thấy trong Hiến pháp 1946; được tìm thấy 3 lần trong Hiến pháp 1959; 4 lần nghiêm cấm + 2 lần nghiêm trị trong Hiến pháp 1980; và 10 + 2 lần trong Hiến pháp 1992.

Để quyền giám sát của nhân dân là một thực quyền

+ Từ “giám sát” được sử dụng tất cả 14 lần trong văn bản dự thảo.

Đảng lãnh đạo, nền hành chính quốc gia, ĐBQH, đại biểu HĐND đều chịu sự giám sát của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn có vai trò trong giám sát này. QH thì có chức năng giám sát tối cao, Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của QH, HĐND thì có chức năng giám sát trong phạm vi trách nhiệm của mình...

“Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” được ghi ở Điều 6 (dự thảo). Đây là một bước tiến phù hợp với thời đại.

Quyền giám sát của nhân dân là một phương thức để thực hiện dân chủ trực tiếp và gián tiếp, đồng thời là một thách thức đối với các đối tượng được nhân dân giám sát, mà cũng là một động lực để các đối tượng này thực hiện đúng nhiệm vụ và chức năng của mình được ghi trong Hiến pháp.

Tuy nhiên cơ chế nào để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình, và hậu quả pháp lý của giám sát ra sao thì chưa được ghi rõ. Tôi kiến nghị dự thảo Hiến pháp phải quy định rõ hai nội dung này, bởi lẽ nếu không thì quyền giám sát của nhân dân cũng chỉ là một quyền treo!

Điều 4 khoản 2 của dự thảo được soạn thảo:

“Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.”

Nhận thứctự nguyện này của Đảng thể hiện trong khoản 2 là một nội dung mới, đáng ghi nhận của dự thảo.

Tuy nhiên như thế chưa đủ để là một quy định của Hiến pháp. Ngoài nội dung đã nói về giám sát của nhân dân trên đây, thiết chế nào ngoài Đảng tự phán xét, được Hiến pháp giao nhiệm vụ đánh giá một quyết định của Đảng là trái với Hiến pháp và Đảng phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân”; và thiết chế nào quyết định mức độ trách nhiệm? Khoảng trống này cần được lấp đầy.

Về Hội đồng hiến pháp

Bách khoa toàn thư Britannica Universalis ghi nhận: “Hầu như mọi quốc gia đều tuyên bố rằng mình có một Hiến pháp, thế nhưng không phải quốc gia nào cũng hành xử một cách phù hợp với Hiến pháp”.

Hiến pháp của hầu hết các nước đều đặt ra nhiệm vụ bảo hiến và xác định thiết chế đi kèm, Hội đồng Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp, hoặc giao cho Tòa án Tối cao nhiệm vụ này.

Một thiết chế mới được đưa vào dự thảo Hiến pháp ở Chương X, Điều 120, và được gọi là “Hội đồng Hiến pháp”. Với chức năng và nhiệm vụ như dự thảo thì đây không phải là Hội đồng Hiến pháp đúng nghĩa mà hầu hết các nước đều hiểu. Tôi kiến nghị nên thiết kế Hội đồng Hiến pháp đúng nghĩa hoặc bỏ hẳn thiết chế mà tên gọi dễ gây hiểu lầm này, giao lại cho một cơ quan giúp việc UBTVQH là đủ.

Cần một Quốc hội được kiểm soát và thực chất

Điều 2 (dự thảo) đã đưa vào thêm duy nhất từ “kiểm soát”. Đọc hết dự thảo, tôi không rõ cơ quan nhà nước nào kiểm soát QH, trong khi đó QH, theo dự thảo, có rất nhiều quyền lực, có thể nói là quyền lực nhất, và không có quy định QH bị giải tán như ở hầu hết các nước. Đây là một thiếu sót mà theo tôi cần được bổ khuyết.

Theo đánh giá của cử tri, hiện nay QH của chúng ta không ngang tầm với nhiệm vụ và chức năng được giao. Vì sao?

Có  nhiều nguyên nhân. Được cử tri chia sẻ nhiều nhất có hai: (1) như dân vẫn nói, trên thực tế các ĐBQH được đảng cử (theo cơ cấu) và dân bầu; (2) ĐBQH đa số là kiêm nhiệm, một số hoạt động chuyên trách (nhưng không hẳn là chuyên nghiệp), vừa tích lũy được một số kinh nghiệm thì sang khóa mới, trên dưới hai phần ba, cho tới nay, phải nhường chỗ cho những người mới.

Có thể nói QH luôn ở trong tình trạng “học việc”, nhưng lại phải quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước ngay trong kỳ họp đầu tiên, trong đó có bầu Chủ tịch QH, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, UBTVQH, phê chuẩn các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiếm toán nhà nước, v.v...

Cần  khắc phục yếu kém này để có thể có được một Nhà nước pháp quyền mạnh. Rất tiếc phiên bản dự thảo Hiến pháp đưa ra lấy ý kiến của nhân dân không mang lại điều gì mới!

Trong ba khóa làm ĐBQH tôi vẫn phát biểu “QH mạnh sẽ góp phần làm cho Nhà nước mạnh và nói cho cùng là góp phần làm cho Đảng mạnh”. Tôi vẫn nghĩ và mong đợi như thế.

Cuối cùng, để Hiến pháp mới ngang tầm với yêu cầu của thời đại và mong đợi của nhân dân, theo tôi dự thảo Hiến pháp cần được gia công thêm nhiều, từ tư duy đến kỹ thuật văn bản. Thà chậm mà tốt, cho đất nước, cho dân tộc.

_______________

 (1) Cụm từ này đã được sử dụng lần đầu tiên trong Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị tháng 11.1993, được sử dụng lại trong Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ngày 24.3.2004.

Gs.Tskh. Nguyễn Ngọc Trân
Nguyên Đại biểu Quốc hội Khóa IX, X, XI
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:02 08/03/2013
Hiện nay, các bộ, ngành, các địa phương đang đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Vậy làm thế nào để khi Hiến pháp mới được ban hành thực sự là đạo luật gốc, kết tinh ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn toàn dân? Đây cũng chính là vấn đề đặt ra trong buổi Tọa đàm chuyên gia đóng góp ý kiến một số quy định cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Ủy ban Về các xã hội vừa tổ chức mới đây.
Quay trở lại đầu trang