DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 18:45 | 15/09/2019 (GMT+7)
.

Nguồn nhân lực - Hợp phần của cạnh tranh và sáng tạo, đối tượng cạnh tranh toàn cầu

17:13 | 28/11/2016
Nhân lực đã qua đào tạo, có tay nghề và trình độ cao là vốn không thể thiếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển. Đó là một hợp phần tạo nên sức cạnh tranh và sáng tạo (innovation) quốc gia. Hợp phần đó được cấu tạo ra sao và đóng góp như thế nào trong bối cảnh hội nhập quốc tế là một nội dung rất cần được phân tích và lượng hóa.

“Chảy máu tài năng” là một thách thức lớn đối với các nước nhất là các nước đang phát triển. Giữ tài năng trong nước và thu hút tài năng từ nước ngoài, có ý nghĩa to lớn đến năng lực cạnh tranh cuả nền kinh tế.

Khi mà việc lưu chuyển lao động là một tiêu chí bắt buộc trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, thì sự cạnh tranh tài năng giữa các quốc gia diễn ra trên phạm vi toàn cầu là tất yếu. Xây dựng hệ thống các chính sách, các biện pháp để vượt qua thách thức này là một nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia.

Những nội dung trên sẽ được đề cập trong bài viết này và liên hệ đến Việt Nam thông qua phân tích Báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu, Báo cáo Chỉ số sáng tạo toàn cầu Báo cáo Chỉ số cạnh tranh tài năng toàn cầu.  

I. HỢP PHẦN CỦA CHỈ SỐ CẠNH TRANH TOÀN CẦU 1

Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) của mỗi nước được WEF tính từ 12 trụ cột (pillars). Các trụ cột này được phân vào ba nhóm:


GCI và 12 trụ cột được tính cho từng quốc gia (hay nền kinh tế) theo cùng một phương pháp, với điểm số từ 1 (thấp nhất) đến 7 (cao nhất) 2. Chỉ số của mỗi nhóm là trung bình cộng của các chỉ số trụ cột trong nhóm. Trọng số để tính toán chỉ số GCI của ba nhóm I, II và III lần lượt là 60%, 35% và 5%, nói lên tầm quan trọng mà WEF dành cho nhóm I.

Trong 12 trụ cột dùng để tính toán GCI, có 5 về nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó là các chỉ số: 4. Sức khỏe và giáo dục tiểu học, 5. Giáo dục đại học và đào tạo, 7. Hiệu quả của thị trường lao động, 9. Sự sẵn sàng đáp ứng về công nghệ, 12. Đổi mới công nghệ.

WEF tính toán mỗi trụ cột từ những chỉ số hợp phần (CSHP). Trụ cột 4 có 10 CSHP, trụ cột 5 có 8, trụ cột 7 có 10, trụ cột 9 có 7 và trụ cột 12 có 7 3.

1. Phân tích 5 chỉ số trụ cột về nguồn nhân lực của Việt Nam

Diễn biến của 5 chỉ số trụ cột này của Việt Nam trong 11 năm 2006 – 2016 được thể hiện trong biểu đồ dưới đây.


Biểu đồ 1. Diễn biến của 5 chỉ số về nguồn nhân lực của Việt Nam 

Chỉ số Sức khỏe và giáo dục tiểu học biến động trong khoảng (5,14 – 5,89), cao nhất trong 5 chỉ số.

Chỉ số Hiệu quả của thị trường lao động tăng trong các năm từ 2006 (4,43) đến 2010 (4,76) sau đó giảm liên tục đến năm 2016 (4,33).

Chỉ số Giáo dục đại học và dạy nghề tăng đều từ 2006 đến 2016, trừ năm 2011. Tuy nhiên điểm số không cao, nằm trong khoảng (3,31 – 4,11). Chỉ số này, tuy trực tiếp chỉ có trọng số là 0.35, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với GCI bởi lẽ chỉ số còn đóng góp gián tiếp thông qua các chỉ số Hiệu quả của thị trường lao độngĐổi mới công nghệ.

Hai chỉ số Sự sẵn sàng đáp ứng về công nghệ Đổi mới công nghệ phản ánh giai đoạn phát triển của nền kinh tế, và sự tham gia của nguồn nhân lực có trình độ cao vào nền kinh tế. Trong 11 năm 2006 - 2016 hai chỉ số này của Việt Nam đều dưới điểm trung bình.

2. Phân tích so sánh Việt Nam với các nước ASEAN

Biểu đồ 2 so sánh chỉ số GCI của Việt Nam với các nước trong ASEAN (có số liệu và được WEF tính toán). Biểu đồ 3 so sánh chỉ số Giáo dục tiểu học. Biểu đồ 4 so sánh chỉ số Giáo dục đại học và Dạy nghề. Biểu đồ 5 so sánh chỉ số Đổi mới công nghệ.


Biểu đồ 3 cho thấy chỉ số Giáo dục tiểu học của Việt Nam chỉ kém Malaysia và Singapore, nhưng khoảng cách khá lớn, nhất là đối với Singapore.

Đáng chú ý là Singapore gần như có cùng điểm xuất phát năm 2006 với Thái Lan và Việt Nam, kém Malaysia 0,7 điểm, để rồi từ năm 2010 đến 2016, Singapore vượt qua Malaysia 0,81 điểm, và bỏ xa Việt Nam đến 1,35 điểm.

Trong Biểu đồ 4 có thể thấy chỉ số Giáo dục đại học và Dạy nghề của Việt Nam tăng đều qua các năm (trừ năm 2011), tuy nhiên điểm số khá thấp, từ dưới điểm trung bình 3,31 (2006) đến 4,11 (2016), chỉ cao hơn chỉ số của Cam-pu-chia, và cách khá xa chỉ số các nước ASEAN khác. Xu hướng tăng bình quân tuyến tính trong 11 năm của Việt Nam là 0,064, thấp hơn Philippines (0,069) và thấp nhiều so với Singapore (0,087).

Nếu không có một sự chuyển biến cơ bản và quyết liệt thì sẽ khó lòng thu hẹp khoảng cách ngay trong ASEAN trong lĩnh vực giáo dục đại học và dạy nghề.

Diễn biến của chỉ số Đổi mới công nghệ (biểu đồ 5) khiến chúng ta băn khoăn vì khoảng cách giữa Việt Nam với các nước ASEAN là khá xa, chỉ hơn Campuchia, trong khi nền kinh tế tri thức đang trở thành động lực ngày càng quan trọng của phát triển kinh tế của các nước.

II. HỢP PHẦN CỦA CHỈ SỐ SÁNG TẠO TOÀN CẦU

Chỉ số sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index, GII) do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với Đại học Cornell (Hoa Kỳ) và Học viện kinh doanh INSEAD (Pháp) xác lập và công bố hàng năm từ năm 2011.

Từ năm 2011 đến 2015, chỉ số GII của Việt Nam được thể hiện bằng điểm số (dòng 1), thứ hạng (dòng 3) và tỷ lệ trên điểm số cao nhất trong bảng dưới đây.


Năm 2015 trên tổng số 141 nước được đánh giá, thứ hạng GII của Việt Nam được nâng lên so với các năm 2012, 2013, 2014, từ hạng 76, 72 lên hạng 52. Tỷ lệ điểm số của Việt Nam trên điểm số cao nhất trong năm cũng tăng trong ba năm này, từ 0,5 lên 0.56. Tuy nhiên so với năm 2011 về thứ hạng cũng như về tỷ lệ thì sự tiến bộ chưa được khẳng định. Trong 5 năm tỷ lệ điểm số vẫn chưa vượt ngưỡng 0,6.

Năm 2016 cách tính chỉ số GII được cải tiến. GII được tính từ 7 trụ cột là 1. Thể chế; 2. Nguồn nhân lực và Nghiên cứu; 3. Kết cấu hạ tầng; 4. Độ tinh vi của thị trường; 5. Độ tinh vi trong kinh doanh; 6. Đầu ra về tri thức và công nghệ; 7. Đầu ra có tính sáng tạo. Mỗi trụ cột có 3 chỉ số, mỗi chỉ số có một số CSHP. Có tất cả 82 CSHP 4.


Bảy trụ cột của GII và 21 nhóm

Ngoài chỉ số GII còn có chỉ số phụ đầu vào cho sáng tạo (Innovation Inputs Sub-Index, IISI), chỉ số phụ đầu ra cho sáng tạo (Innovation Outputs Sub-Index, IOSI), và tỷ lệ hiệu suất sáng tạo (Innovation Efficiency Index, IER).

Điểm số của IISI là trung bình cộng của điểm số 5 trụ cột đầu. Điểm số của IOSI là trung bình cộng của điểm số 2 trụ cột cuối. Điểm số của GII là trung bình cộng của điểm số của IISI và IOSI. Điểm số của IER là tỷ số IISI/IOSI.  

Dưới đây là bảng các chỉ số GII, IISI, IOSI và IER của 7 nước ASEAN (có số liệu) năm 2016, theo điểm số và theo thứ hạng, và của Trung Quốc.


Theo cách tính GII năm 2016, điểm số và thứ hạng của GII của Việt Nam giảm so với 2015. Tuy vậy chỉ số mới IER của Việt Nam có điểm số 0.84, xếp thứ hạng 11 trên tổng số 128 nước, cao hơn 6 nước ASEAN khác, kể cả Singapo.

III. ĐỐI TƯỢNG CẠNH TRANH TÀI NĂNG TOÀN CẦU. CHỈ SỐ GTCI

Từ năm 2013, INSEAD 5 đã cùng với ADECCO 6 và Viện HCLI 7 thiết lập Chỉ số cạnh tranh tài năng toàn cầu (Global Talents Competitiveness Index, GTCI) từ 6 chỉ số trụ cột là 1.Tạo điều kiện, 2. Thu hút, 3. Tăng trưởng, 4. Giữ chân, 5. Lao động và kỹ năng nghề, 6. Kỹ năng sử dụng kiến thức chung 8.

Trụ cột 1. Tạo điều kiện (Enable) có 14 CSHP phân vào 3 nhóm Bối cảnh lập quy (4), Bối cảnh thị trường (6), Bối cảnh kinh doanh – lao động (4).

Trụ cột 2. Thu hút (Attract) có 11 CSHP phân vào 2 nhóm Độ mở đối ngoại (6) và Độ mở đối nội (5).

Trụ cột 3. Tăng trưởng (Grow) có 12 CSHP phân vào 3 nhóm Giáo dục chính quy (5), Giáo dục suốt đời (3), Tiếp cận các cơ hội tăng trưởng (4).

Trụ cột 4. Giữ lại (Retain) có 7 CSHP phân vào 2 nhóm Tính bền vững (2) và Lối sống (5).

Trụ cột 5. Lao động và kỹ năng nghề nghiệp (Labour and vocational skills) có 6 CSHP phân vào 2 nhóm: Các kỹ năng có thể tuyển dụng (3) và Năng suất lao động (3).

Trụ cột 6. Kỹ năng tri thức toàn cầu (Global knowledge skills) có 11 CSHP phân vào 2 nhóm Kỹ năng bậc cao và Năng lực (7) và Tác động của tài năng (4).

Biểu đồ 6 cho chúng ta 6 chỉ số trụ cột của Việt Nam trong ba năm 2013 – 2015. Ngoài trụ cột 1 tăng đều, 5 trụ cột còn lại của Việt Nam trồi sụt không đều.


Biểu đồ 6. Chỉ số GTCI và 6 chỉ số hợp phần của Việt Nam trong các năm 2013 - 2015

Biểu đồ 7 so sánh chỉ số GTCI của Việt Nam với các nước ASEAN khác có số liệu. Việt Nam đứng ở thứ hạng 82/109 nước, trong khi Thái Lan ở thứ hạng 69, Philippines 56, Malaysia 30, Singapore 2. Việt Nam chỉ cao hơn Indonesia 90, và Campuchia 94.


Biểu đồ 7. Chỉ số GTCI của các nước ASEAN trong các năm 2013 - 2015

Bảng điểm số GTCI và 6 trụ cột của một số nước ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Đại dương và Châu Á, tất cả đều thuộc Nhóm có thu nhâp cao (High Income) được trích lập (dưới đây) để thấy khoảng cách giữa các chỉ số của Việt Nam với các nước này là khá xa. Điều này cho thấy khả năng nghiên cứu sinh Việt Nam sau khi tốt nghiệp không trở về nước, và tài năng Việt Nam bị các nước này thu hút là rất lớn.


 

IV. ỨNG PHÓ ĐỂ CÁN CÂN TÀI NĂNG CÓ LỢI NHẤT CHO QUỐC GIA

Vì sao tài năng ra đi?

Có nhiều lý do nhưng tựu trung những người ra đi (hoặc chọn ở lại sau khi tốt nghiệp) xuất phát từ việc họ muốn khai thác khoảng cách về khoa học và công nghệ, khoảng cách về thu nhập và mức sống, khả năng phát triển nghề nghiệp và tiến thân, và khả năng có được an sinh xã hội và yên bình giữa nơi họ ra đi và nơi đến. Họ biết rõ rằng đổi lại, họ phải làm việc có chất lượng, với cường độ cao, và thành công không phải dễ.

Hình 1 chỉ ra 10 luồng di chuyển lớn nhất các nhà sáng chế trên thế giới trong 10 năm 2001 – 2010.


Nguồn: Wipo 2013, database of migrant inventors (Hình 1).

Hình 2 thể hiện cán cân các nhà sáng chế của 27 nước trong cùng thời gian.


Nguồn: Wipo 2013, database of migrant inventors (Hình 2).

Trong số 27 nước, chỉ có 5 nước Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Singapo, Bỉ và Phần Lan là có cán cân (nhập – xuất) các nhà sáng chế thặng dư; 3 nước Nhật Bản, Thụy Điển và Hà Lan có cán cân cân bằng. 19 nước còn lại có cán cân âm.

Trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học, hình dưới đây cho thấy diễn biến của cán cân di chuyển giảng viên đại học và nghiên cứu viên khoa học của một số quốc gia từ 1999 đến 2013 giữa số người đến và số người đi (tỷ lệ %).


Nguồn: WWO 2016 www.wissenschaftweltoffen.de/publikation/wiwe_2016_verlinkt.pdf

Trong thời đoạn 1999 – 2003, cán cân của Hoa Kỳ thặng dư 79%. Thặng dư này chỉ còn 4% trong thời đoạn 2004 – 2008, và trở thành -16% trong thời đoạn 2009 – 2013.

Canada và Trung Quốc tương tự nhau ở chỗ số người đến ít hơn số người đi trong thời đoạn đầu, và sau đó là thặng dư (TQ +55%, Canada +10%).

Ba nước Đức, Pháp và Anh giống nhau ở chỗ suốt 14 năm, số người đến ít hơn số người ra đi. Đối với Anh, ngày càng âm (-20%, -26%, -55%).

Những số liệu thống kê trên đây của WIPO 9 và của DZHW 10 cho thấy sự cạnh tranh tài năng diễn ra khá quyết liệt.  

Nhiệm vụ ứng phó của quản lý nhà nước của các quốc gia trong bối cảnh đó là phải tạo môi trường thuận lợi để giữ tài năng và thu hút tài năng, và khái quát hơn, để cán cân tài năng giữa phần “chảy đi” và phần “thu hút về” có lợi nhất cho đất nước về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng.

Đó là điều mà tác giả cảm nhận được phần nào qua nghiên cứu Chiến lược di chuyển quốc tế (International mobility Strategy) của CHLB Đức và các công cụ phục vụ cho chiến lược của quốc gia này.

Chiến lược về quốc tế hóa của các Bộ Khoa học và 9 lĩnh vực hoạt động được hình thành theo sơ đồ dưới đây.


 

Các biện pháp hỗ trợ chiến lược là:

(1) Mở trang mạng Wissenschaftweltoffen của BMBF giới thiệu những dữ liệu về học tập và nghiên cứu mang tính quốc tế ở CHLB Đức.

(2) Lập Dự án Audit “Internationalisation of Universities” nhằm hỗ trợ các trường đại học Đức trong việc mở ra quốc tế.

 (3) Mở cổng thông tin mạng “Nghiên cứu ở Đức” (thuộc Bộ Giáo dục và Nghiên cứu) để cung cấp một tổng quan về bức tranh nghiên cứu khoa học ở CHLB Đức, giúp cho các nhà khoa học và nghiên cứu viên ngoại quốc quyết định việc hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Đức, hoặc đến làm việc ở Đức. http://www.research-in-germany.org/en/about-us.html

(4) Lập Cổng “GATE Germany” chịu trách nhiệm về việc tiếp thị Giáo dục đại học Đức ra thế giới.

(5) Xây dựng Mạng lưới GAIN (viết tắt từ German Academic International Network) dành cho các nhà nghiên cứu Đức đang làm việc tại Bắc Mỹ (diễn đàn trao đổi, các hội nghị thường niên, các xêmina, …) http://www.gain-network.org/ (DZHW còn gọi mạng luới này là (Re-)gain (German) researchers from abroad).

Nhìn ra thế giới, trông người và nghĩ đến mình, tác giả mong rằng bài viết này mang đến cho những người có trách nhiệm và những ai quan tâm những chất liệu ban đầu để khơi luồng cùng nhau suy nghĩ và từ đó hiến kế với Nhà nước làm gì để cán cân tài năng có lợi nhất cho đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh tài năng toàn cầu. 

_________________

1 Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum, WEF) công bố hàng năm chỉ số cạnh tranh toàn cầu, GCI, (Global Competitiveness Index) của khoảng 140 nền kinh tế trên thê giới. Số liệu có từ năm 2006 đến 2016 trong  http://www.weforum.org/reports/global-competitiveness-report-2016-2017

2 Khi công bố một chỉ số của một quốc gia, WEF cung cấp điểm của chỉ số và thứ hạng trong tổng số các quốc gia có số liệu và được WEF tính toán (thay đổi tùy theo năm). Tác giả chọn xem xét điểm số vì thực chát hơn thứ hạng. 

3 Để biết về các chỉ số hợp phần, vào http://www.weforum.org/reports/global-competitiveness-report-2016-2017

4 Xem chi tiết về các chỉ số hợp phần của 7 trụ cột trong The Global Innovation Index 2016, Winning with Global Innovation, Soumitra Dutta, Bruno Lanvin, and Sacha Wunsch-Vincent Editors, 2016.  

5 INSEAD là viết tắt của Institut Européen d'Administration des Affaires (Viện châu Âu về quản trị kinh doanh,  European Institute of Business Administration) của Pháp thành lập năm 1957, hiện là trường đào tạo hàng đầu trên thế giới về quản trị kinh doanh,

6 ADECCO là tập đoàn đa quốc gia, quốc tịch Thụy sĩ, chuyên về tư vấn tuyển dụng nhân sự, thành lập năm 1996.

7 HCLI (Human Capital Leadership Institute, Viện đào tạo nguồn nhân lực lãnh đạo) thành lập năm 2010, quốc tịch Singapore.

8 The Global Talent Competitiveness Index, Talent Attraction and International Mobility, 2015-16, Bruno Lanvin and Paul Evans, Editors.

9 WIPO viết tắt từ World Intellectual Property Organisation, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới.

10 DZHW viết tắt từ Deutsches Zentrum für Hochschul- und Wissenschafstforschung, Trung tâm nghiên cứu về đại học và khảo cứu về khoa học của Đức.

GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang