DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 12:08 | 14/10/2019 (GMT+7)
.

Liên kết tiểu vùng ở đồng bằng sông Cửu Long

08:01 | 16/01/2019
Liên kết tiểu vùng chưa có tiền lệ, triển khai sẽ không ít cam go vì trong thể chế hiện nay chỉ có quan hệ dọc Trung ương - từng tỉnh, chưa có cơ chế, chính sách cho liên kết ngang (tiểu vùng) và quan hệ Trung ương - tiểu vùng. Chưa có quy định lại cho chúng ta cơ hội để đề xuất nội dung và cơ chế chính sách.

Vừa qua, được mời tham dự Hội thảo về Tầm nhìn chiến lược để phát triển bền vững Tiểu vùng Duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long (DHPĐ) tại Bến Tre, tôi đã trao đổi với hội thảo một số nội dung. Các vấn đề đề cập không đóng khung trong tiểu vùng này(1).

1. Về bài tham luận tóm lược báo cáo Mekong Delta Plan (MDP) mà Chính phủ Hà Lan đã xây dựng trong hai năm 2011 - 2012, trình Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vào đầu năm 2013. Bên cạnh các đóng góp tích cực, về phương pháp luận, về các kịch bản phát triển… một nhược điểm của MDP, như tác giả đã phản biện(2), là chưa nhìn ra biển trong phát triển mà chỉ nhìn vào bên trong đồng bằng. Có lẽ vì vùng Zeeland của Hà Lan đã được bao đê khá kín, cách ly Zeeland với Biển Bắc. Rất khác với ĐBSCL.

Vào thời điểm 2012, chưa có Nghị quyết 120 của Chính phủ (ban hành ngày 18.11.2017) mà một số quan điểm chỉ đạo có liên quan trực tiếp đến Tiểu vùng DHPĐ. Đó là phải tôn trọng quy luật tự nhiên, không can thiệp thô bạo trái với quy luật vào môi trường tự nhiên; coi nước lợ và nước mặn cũng là tài nguyên, và phải chú trọng khai thác vùng duyên hải và cận duyên của đồng bằng.

2. Tiến hành liên kết vùng là để phục vụ người dân. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nằm trong Tầm nhìn đến năm 2100Mục tiêu đến năm 2050 của Nghị quyết 120.

Tầm nhìn chiến lược của Tiểu vùng DHPĐ phải quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong Tiểu vùng. Một thể hiện tối thiểu là quan tâm đến số dân của tiểu vùng. Rất tiếc không tìm thấy số liệu này trong các báo cáo chính thức của hội thảo.

Theo những số liệu sưu tầm được, GDP bình quân đầu người năm của 13 tỉnh ĐBSCL so với GDP bình quân đầu người năm của cả nước liên tục giảm từ năm 2000 đến 2011. Tình hình đối với 4 tỉnh trong Tiểu vùng ra sao từ năm 2000 cho đến nay, so với ĐBSCL và so với cả nước? Có đang bị tụt hậu hay không?

Để phát triển bền vững, trình độ dân trí là một trong những yếu tố cơ bản. ĐBSCL cho đến hôm nay vẫn là một vùng trũng về giáo dục và đào tạo. Trình độ dân trí trong Tiểu vùng ra sao? Trong một bảng, duy nhất trong các báo cáo, có chỉ ra một khía cạnh của chất lượng nguồn nhân lực của Tiểu vùng. Nếu đi sâu hơn, giữa đô thị và nông thôn, báo cáo sẽ thấy khẩn thiết ra sao chất lượng của nguồn nhân lực và liên kết cần làm gì trong lĩnh vực này.

3. Có lẽ mỗi tiểu vùng ở ĐBSCL cần tự hỏi: Tiểu vùng mình có những đặc trưng gì làm cho nó khác biệt với các tiểu vùng khác? Ở DHPĐ, trong các đặc trưng, có một, mà Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long đã chỉ ra: Tiểu vùng là địa bàn duy nhất ở ĐBSCL được hình thành với những giồng cát từ 3500 năm trước cho tới hiện nay, trong quá trình biển lùi và trầm tích từ thượng nguồn được sông Mekong tải về.

Bồi, xói đường bờ của Tiểu vùng không phải chỉ dừng lại ở các con số km, km2 mà cần được đặt trong bối cảnh biển tiến (dâng) và trầm tích bị các đập thủy điện trên thượng nguồn giữ lại để hiểu và dự báo. Phải chăng ĐBSCL, và trước tiên tiểu vùng DHPĐ, đang bước vào giai đoạn đầu của một quá trình ngược lại?

4. Trong hội nhập quốc tế, các chuyên gia khuyến cáo “Tư duy toàn cầu, hành động địa phương”. Trong liên kết tiểu vùng, “Tầm nhìn chiến lược, hành động cụ thể” và có cơ sở khoa học.

Rất nhiều báo cáo nói đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún… Phải hiểu chúng diễn ra như thế nào, ở đâu thì mới có thể có hành động cụ thể sát hợp. Thể hiện trên bản đồ của tiểu vùng sẽ gợi mở nhiều điều có ích cho liên kết. Thiết nghĩ cần có một bộ bản đồ về địa mạo thổ nhưỡng, về thủy văn, về đa dạng sinh học, về xâm nhập mặn, về hiện trạng sử dụng đất, về giao thông thủy bộ,… được số hóa, và những kết quả mô phỏng về xâm nhập mặn. Bộ bản đồ này là chất liệu cho tổng hợp và cho đề xuất nội dung liên kết. Các sở, ban ngành của các tỉnh cần phối hợp để xây dựng.

5. Từ hai năm nay, vấn đề liên kết các tiểu vùng của ĐBSCL đã được nói đến nhiều trong nhiều cuộc hội thảo và trong các văn bản trong đó có Nghị quyết 120. Các Ban chỉ đạo, Ban điều hành được thành lập. Tuy nhiên hiểu tại sao phải liên kết là cần nhưng chưa đủ. Nguyên tắc của liên kết là gì? Sản phẩm của liên kết là một quy hoạch tổng thể tiểu vùng, một đề án, một ý tưởng hay là một cái gì khác? Phương pháp luận xây dựng liên kết cũng cần được làm rõ. Người dân tham gia như thế nào một cách thiết thực? Và quan trọng không kém, đâu là vốn để triển khai?

Nếu không, sẽ khó có được sự đồng thuận cao của các tỉnh trong cùng tiểu vùng, và giả sử được Thủ tướng cho phép triển khai, liên kết các tiểu vùng ở ĐBSCL sẽ mỗi nơi làm một cách, khó có thể kết nối lại được với nhau.

6. Nói như vậy không có nghĩa là phải làm rõ ra tất cả các câu hỏi nói trên rồi mới triển khai liên kết, hay phải có cơ chế, chính sách phù hợp thì mới tiến hành liên kết các tiểu vùng được.

Liên kết tiểu vùng chưa có tiền lệ, triển khai sẽ không ít cam go vì trong thể chế hiện nay chỉ có quan hệ dọc Trung ương - từng tỉnh, chưa có cơ chế, chính sách cho liên kết ngang (tiểu vùng) và quan hệ Trung ương - tiểu vùng.

“Cái khó làm ló cái khôn”. Chưa có quy định lại cho chúng ta cơ hội để đề xuất nội dung và cơ chế chính sách. Chính vì vậy, càng cần phải làm rõ các nguyên tắc liên kết, những phối hợp cần thiết, và đâu là các động lực của phối hợp. Trên cơ sở đó, xây dựng những nội dung liên kết có sức thuyết phục, từ đơn giản đến phức tạp, ưu tiên chọn những vấn đề bức bách nhất, cơ bản nhất đối với tiểu vùng và đề xuất những cơ chế chính sách đi kèm được sự nhất trí cao của lãnh đạo các tỉnh trong tiểu vùng.

_______________

1. Hiện nay, các tỉnh, thành phố ĐBSCL tự phân thành bốn tiểu vùng để liên kết: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau và Duyên hải phía Đông ĐBSCL.

2. Tại hội thảo lần cuối, ngày 5.12.2012, Mỹ Tho, Tiền Giang.

Nguyễn Ngọc Trân - Đại biểu Quốc hội Khóa IX, X, XI
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang