DIỄN ĐÀN ĐBND
Cập nhật 22:26 | 25/02/2020 (GMT+7)
.
Chính sách và cuộc sống

Trách nhiệm lớn nhất của chính quyền

07:57 | 11/11/2019
Để kinh tế tiếp tục phát triển bền vững, trật tự và an sinh xã hội ngày càng được cải thiện theo hướng văn minh, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, chủ quyền quốc gia, Chính phủ cần quan tâm giải quyết hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất là phát huy nội lực, đa dạng hóa quan hệ thương mại quốc tế, bảo đảm cân đối cán cân thương mại, giảm bớt phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài.

Như chúng ta biết, từ nhiều năm nay, Việt Nam trở thành một nước hấp dẫn doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, đồng thời cũng là nước có nhiều mặt hàng xuất khẩu, có những mặt hàng đứng thứ hạng cao về số lượng và doanh thu. Tuy nhiên, thị trường trong nước chưa được quan tâm đúng mức. Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chú trọng xuất khẩu hơn là bảo đảm hàng chất lượng cao, an toàn để phục vụ người Việt Nam. Vì thế, nhiều người dân có xu hướng thiếu tin tưởng hàng nội địa, chủ yếu mua hàng nước ngoài khiến cho hàng hóa nước ngoài dễ dàng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam vốn không hề nhỏ với dân số gần 100 triệu người. Đây là điều cần được thay đổi.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp tư nhân trong nước chưa được hỗ trợ xứng đáng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì trong 3-4 năm qua, khu vực kinh tế tư nhân luôn chiếm hơn 40% GDP, đến năm 2018 kinh tế tư nhân đóng góp 42,1% GDP và con số này có dấu hiệu tăng lên. Trong cùng giai đoạn đó, doanh nghiệp nhà nước mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi lớn về vốn và tài nguyên nhưng chỉ loanh quanh ở mức 27% - 28%. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được ưu đãi và trông cậy nhiều cũng chỉ đóng góp được từ 18% - 20%. Chính phủ cần có biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân thuận lợi trong tiếp cận vốn và tài nguyên cũng như những điều kiện khác để phát triển nhanh chóng, tương xứng với tiềm năng và đóng góp của khu vực kinh tế này.

Mặt khác, Quốc hội, Chính phủ cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát, hoàn thiện các quy định của pháp luật để chống gian lận thương mại, chống hiện tượng hàng hóa doanh nghiệp nước ngoài đội lốt doanh nghiệp Việt Nam để bảo đảm uy tín thương mại, quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam và an ninh kinh tế chính trị.

Doanh nghiệp FDI cũng chưa đáp ứng được kỳ vọng. Bên cạnh một số doanh nghiệp FDI góp phần làm khởi sắc nền kinh tế Việt Nam, thì quan sát trên các số liệu thống kê có thể thấy hai hiện tượng nổi lên. Một, các doanh nghiệp FDI chủ yếu vào Việt Nam để tận dụng nhân công giá rẻ, không bàn giao công nghệ - là thứ mà Việt Nam cần nhất. Hai, số doanh nghiệp FDI báo lỗ hàng năm là từ 44% - 51% trên tổng số doanh nghiệp có báo cáo. Đáng chú ý là tốc độ tăng của quy mô đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp báo lỗ và doanh nghiệp lỗ lũy kế đang cao hơn tốc độ tăng về số lượng doanh nghiệp báo lỗ và doanh nghiệp lỗ lũy kế. Điều đó cho thấy tình trạng chuyển giá của khu vực FDI ngày càng gia tăng, phức tạp.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, sau 25 năm Việt Nam - Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, tổng kim ngạch thương mại của hai nước đã tăng 2.220 lần từ mức 30 triệu USD năm 1991 đến 66,6 tỷ USD năm 2015. Trong đó, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc là 32,42 tỷ USD. Theo thống kê của Trung Quốc thì nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chiếm đến 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, đó là chưa kể đến nhập khẩu theo đường tiểu ngạch.

Trung Quốc là một nền kinh tế lớn, phát triển hơn Việt Nam, lại là nước láng giềng của Việt Nam nên việc phát triển mạnh quan hệ thương mại là đương nhiên. Tuy nhiên, Chính phủ cần có biện pháp thúc đẩy đa dạng hóa quan hệ thương mại quốc tế để bảo đảm cân đối, bởi vì nền kinh tế Việt Nam quy mô chỉ khoảng 200 tỷ USD mà hàng hóa xuất, nhập khẩu với một nước lên đến 66,6 tỷ USD, bằng 1/3 GDP hoặc là gần 100 tỷ USD - theo thống kê của Trung Quốc, tương đương 1/2 GDP thì kinh tế Việt Nam rất dễ bị phụ thuộc vào nền kinh tế đó. Nếu như kinh tế nước bạn gặp vấn đề lớn thì kinh tế của Việt Nam khó mà tránh khỏi ảnh hưởng.

Vấn đề thứ hai là nâng cao năng lực và trách nhiệm quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước. Qua theo dõi cách xử lý thiên tai như lũ quét, lở đất và tai họa do bất cẩn hoặc hành vi vi phạm pháp luật của con người, như vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở Công ty Vedan Đồng Nai, ở Công ty Formosa Hà Tĩnh, vụ cháy Nhà máy Bóng đèn, phích nước Rạng Đông Hà Nội, vụ đổ trộm chất thải công nghiệp vào nguồn nước cung cấp nước sạch cho Hà Nội có thể thấy chính quyền nhiều nơi, nhất là chính quyền đô thị nước ta hết sức lúng túng, chưa thực thi đầy đủ trách nhiệm với dân.

Ở đây có những câu hỏi đặt ra. Vì sao chính quyền nhiều vùng thường xảy ra lũ lụt không có biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại cho dân, như là tăng cường trồng rừng, xây dựng các công trình kiên cố chống lũ, di dân và cảnh báo kịp thời sơ tán dân trước khi lũ lụt xảy ra? Vì sao chính quyền ở nhiều vùng có nguy cơ xảy ra ô nhiễm môi trường không có biện pháp kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm? Khi xảy ra sự cố không kịp thời thông báo cho dân có biện pháp bảo vệ quyền lợi, sức khỏe, tính mạng người dân, hạn chế thiệt hại cho dân?

Bảo đảm quyền lợi, sức khỏe, tính mạng người dân là trách nhiệm lớn nhất của chính quyền. Chúng ta nên giảm bớt họp hành, hội thảo, mít tinh và các công việc bề nổi để nâng cao năng lực quản lý, phục vụ, hoàn thành những nhiệm vụ thiết thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Chính phủ ngay trong thời gian tới cần có biện pháp hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân có trách nhiệm để làm thay đổi căn bản tình trạng đáng buồn này.

ĐBQH Nguyễn Thị Kim Thúy (TP Đà Nẵng)
Xem tin theo ngày:
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
11:33 19/02/2018
Kiến nghị cử tri được “ghi nhận” nhưng chưa giải quyết dứt điểm, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Nhâm Thị Phương cho rằng, cần xác định việc giải quyết, trả lời đầy đủ, đúng thời hạn các kiến nghị của cử tri là một trong những tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ; tạo sức ép, buộc từng ngành, cấp chủ động, năng động thực hiện đúng, đủ và kịp thời.
Quay trở lại đầu trang