QUỐC TẾ
Cập nhật 11:38 | 14/12/2018 (GMT+7)
.
Công cụ đánh giá sự phát triển của nền kinh tế

Những chỉ số thiết thực

09:29 | 14/01/2018
GDP là một chỉ tiêu mang tính ngắn hạn và nhất thời. Khi quyết tâm tăng trưởng GDP tức là phải đánh đổi giữa ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng GDP không phải là tăng trưởng kinh tế và không phản ánh một cách thực chất sức khỏe của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, chỉ tiêu GDP chỉ tính đến các đơn vị thường trú trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng quên rằng cái mà một quốc gia thực sự được hưởng là Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income - GNI) và thu nhập Quốc gia khả dụng (National Disposable income - NDI) chứ không phải chỉ tiêu GDP.

Nếu trong giai đoạn 2000 - 2006, tăng trưởng GDP và tăng trưởng GNI có độ chênh lệch chỉ khoảng 0,1 điểm phần trăm (tăng trưởng GNI trong giai đoạn này khoảng 7,4%), thì độ chênh lệch về tăng trưởng GDP và GNI trong giai đoạn 2007 - 2012 lên đến 0,6 điểm phần trăm (tăng trưởng GNI ước tính 5,3%). GNI đã được Tổng cục Thống kê công bố hơn 10 năm trong “Niên giám Thống kê” hàng năm, nhưng các chuyên gia kinh tế và các nhà hoạch định chính sách hầu như không hề quan tâm, mọi quan tâm phân tích chỉ đổ dồn vào GDP từ cơ cấu đến tăng trưởng.

Để dành (saving) là nguồn cơ bản để tái đầu tư. Nếu GDP tăng do chi tiêu thường xuyên của Nhà nước sẽ làm giảm mức để dành của nền kinh tế (Để dành = NDI – Chi tiêu dùng của hộ gia đình (C) – Chi thường xuyên của chính phủ (G)). Hoặc, nếu tăng đầu tư từ ngân sách có thể trong tức thời làm tăng GDP nhưng sẽ dẫn đến cán cân giữa để dành và đầu tư mất cân đối, khi đó vay mượn nước ngoài là không thể tránh khỏi (Đầu tư = Để dành + chuyển nhượng vốn thuần + Đi vay/Cho vay) nếu vẫn tiếp tục giữ quan điểm quản lý cầu kiểu Keynes.

 

Ở Trung Quốc, suốt từ năm 1998 đến nay, hầu như để dành của Trung Quốc luôn cao hơn lượng đầu tư hàng năm. Tỷ lệ để dành thấp nhất của Trung Quốc vào năm 2000 cũng đạt khoảng 37% GDP, trong khi đầu tư chỉ khoảng 35% GDP. Sự mất cân đối giữa để dành và đầu tư dường như không còn suốt từ năm 1998 đến nay. Khi đầu tư thấp hơn có thể sẽ làm tăng trưởng GDP chậm lại, nhưng dường như họ cũng nhận ra tăng trưởng GDP thực ra không phải tất cả, mà khoảng cách giữa để dành và đầu tư mới là vấn đề quan trọng thực sự. Với sự hướng tới để dành, Trung Quốc có thể giảm đầu tư trong nước mà hướng đầu tư ra nước ngoài, những nơi có giá nhân công rẻ hơn và lại đang yêu mến FDI. Tuy tăng trưởng GDP của họ giảm đi, nhưng để dành lại tăng lên. Như vậy, trong vài năm tới Trung Quốc sẽ hướng tới cái dài hạn mà bỏ qua (không phải hy sinh) ngắn hạn.

Nếu vẫn vồ vập ưu đãi FDI có thể vẫn có tăng trưởng GDP nhưng luồng tiền chi trả sở hữu cũng tăng lên mạnh mẽ hơn và cán cân giữa để dành và đầu tư sẽ ngày càng căng thẳng. Việc tăng trưởng GDP không phải tất cả, việc phân phối lại thu nhập và để dành mới là điều cốt yếu của một quốc gia về lâu về dài.

Các nhà làm chính sách và các chuyên gia dường như chỉ quan tâm đến các vấn đề thuộc về ngắn hạn, việc tăng trưởng GDP thực chất chỉ phản ánh vấn đề trong ngắn hạn, những vấn đề về dài hạn và sự phân phối lại ra sao dường như không được ai quan tâm đúng mức. Những chỉ tiêu, như: GNI, NDI, để dành (saving), vốn... của nền kinh tế là những chỉ tiêu vô cùng quan trọng, phản ánh sức khỏe thực sự của nền kinh tế, thì chưa được quan tâm đúng mức. Khi chỉ quanh quẩn với GDP thì sẽ chẳng thể có chiến lược dài hạn.

Để đánh giá toàn diện nền kinh tế cần có những số liệu chính xác, trung thực, phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế. Chúng ta không chỉ xem xét những chỉ tiêu ngắn hạn như GDP, CPI... mà cần đi sâu vào những chỉ tiêu phản ánh tốt hơn thực trạng nền kinh tế.

Bùi Trinh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang