VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 20:52 | 02/09/2014 (GMT+7)
.

Đánh giá thực trạng của hệ thống thiết chế văn hóa để định hướng chiến lược và làm quy hoạch

24/08/2010
Nơi vui chơi giải trí của thiếu niên, nhi đồng luôn luôn là mối quan tâm không chỉ của các bậc phụ huynh mà còn là mối quan tâm của các ngành, các cấp và của toàn xã hội. Hơn bao giờ hết, vấn đề quy hoạch, quản lý, và phát triển các thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của thiếu niên nhi đồng lại được đặt ra một cách bức thiết…

Nhìn từ góc độ cơ chế chủ quản thì ở nước ta lâu nay đã hình thành và tồn tại ba hệ thống thiết chế văn hóa cơ bản (không kể các thiết chế truyền thống lâu đời): hệ thống thiết chế văn hóa thuộc ngành Văn hóa Thông tin (nay là Văn hóa, Thể thao và Du lịch); hệ thống thiết chế văn hóa thuộc Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và hệ thống thiết chế văn hóa thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong đó thiết chế văn hóa của Đoàn thanh niên ưu tiên chủ yếu là đối tượng thanh thiếu niên nhi đồng. Tuy nhiên, khi cơ chế kinh tế thị trường xuất hiện, Nhà nước chủ trương cho các đơn vị sự nghiệp tự chủ về hoạt động và tài chính thì đối tượng phục vụ của cả ba hệ thống thiết chế kể trên đang đi đến xu hướng “hội nhập” – tức là đều phục vụ tất cả các đối tượng trong xã hội. Vì vậy, tất yếu dẫn đến một hệ quả là: sự tương đồng ngày một sâu hơn về chức năng nhiệm vụ của các thiết chế văn hóa này khi phục vụ đời sống văn hóa của nhân dân trên địa bàn. Từ xu thế đó để mở mang hoạt động, nhất là dịch vụ vui chơi giải trí, các thiết chế văn hóa dù của ngành nào, chủ thể nào thì cũng tìm cách thỏa mãn (chí ít là đáp ứng) các đối tượng đa dạng của mình, trong đó không thể thiếu đối tượng ở lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng là lứa tuổi mà như dân gian thường nói nôm rằng, đó là “tuổi ăn, tuổi chơi”. Như vậy, bên cạnh vị trí, vai trò ngày một quan trọng của hệ thống thiết chế văn hóa đối với đời sống tinh thần của nhân dân thì xu hướng ngày một quan tâm hơn của các thiết chế văn hóa (kể cả các thiết chế văn hóa không nằm trong hệ thống Đoàn thanh niên) đối với đối tượng phục vụ là thiếu niên nhi đồng cũng sẽ gia tăng như là một tất yếu giúp cho chính các thiết chế văn hóa có cơ hội hơn trong sự phát triển đa dạng của mình.

Tuy nhiên, để các thiết chế văn hóa có đủ lực cả về lượng và chất tự đứng vững trên đôi chân của mình và ngày một phục vụ tốt hơn nhu cầu vui chơi giải trí của công chúng, trong đó có đối tượng thiếu niên nhi đồng, trước hết cần được bắt đầu từ bài học kinh nghiệm xây dựng quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bởi, quy hoạch đối với bất cứ một lĩnh vực nào cũng đều đóng vai trò rất quan trọng. Nó là một nội dung của quản lý nhà nước, là cơ sở pháp lý, là phương tiện giúp cho hệ thống cơ quan chủ quản thực hiện công tác quản lý và chỉ đạo phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực do mình chịu trách nhiệm. Quy hoạch còn giúp cho các cơ quan chủ quản hiểu được, nắm được thực trạng của lĩnh vực cần quản lý, từ đó xác định được mục tiêu, chỉ tiêu cần phấn đấu trên cơ sở xác lập các quy chuẩn phù hợp rồi đưa ra giải pháp, lộ trình để thực hiện. Kết quả là có thể “đong đếm” được khi mọi việc đều được mục tiêu, chỉ tiêu hóa một cách cụ thể và được bảo đảm các điều kiện cần thiết.

Đối với các thiết chế văn hóa cho thanh, thiếu niên, nhi đồng, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí Minh cần xúc tiến ngay công tác quy hoạch hệ thống thiết chế của mình vì đây cũng là một hệ thống đã khá lớn và rộng khắp trong cả nước : có tới 80% số tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có thiết chế văn hóa cấp tỉnh và khoảng dưới 50% cấp huyện có thiết chế văn hóa cấp huyện, chưa kể cấp xã, phường… Tuy nhiên, để thực hiện tốt công tác quy hoạch, Trung ương Đoàn phải làm tổng kết, đánh giá được thực trạng của hệ thống thiết chế văn hóa hiện nay để hình thành định hướng chiến lược và làm căn cứ cho quy hoạch; xin chủ trương của Chính phủ và tranh thủ sự đồng thuận của các cấp chính quyền, hệ thống chính trị từ trung ương xuống cơ sở. Quy hoạch phải bám sát vào các căn cứ pháp lý như Luật Thanh niên, Chiến lược phát triển văn hóa đến 2020. Và đặc biệt, quy hoạch phải chú ý đến quỹ đất. Đây là điều kiện tiên quyết để có thể quy hoạch hệ thống thiết chế. Bên cạnh đó cần xây dựng các quy chuẩn cho từng cấp thiết chế trong hệ thống thiết chế văn hóa của Đoàn có dựa trên đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi.

Vấn đề thứ hai trong phát triển các thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của thiếu niên nhi đồng là tổ chức hoạt động tại các thiết chế này ra sao? Lâu nay chúng ta vẫn biết có một nguyên tắc bất di bất dịch là: trong mọi đề án, dự án xây dựng các thiết chế văn hóa đều không thể bỏ qua một nội dung là xây dựng thiết chế này để làm gì? Tức là làm rõ về công năng của thiết chế, về tổ chức hoạt động cho thiết chế. Tóm lại, khi xây dựng xong nó đem lại lợi ích gì về văn hóa cho cộng đồng? Tuy nhiên, trong thực tế đang có một diễn biến đáng báo động tại không ít địa phương là: người ta chỉ quan tâm đến xây dựng thiết chế mà ít quan tâm đến việc sẽ tổ chức hoạt động ở thiết chế như thế nào. Chúng ta phải đồng thời vừa quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất vừa phải tổ chức tốt nhất các nội dung hoạt động văn hóa để có thể phát huy tối đa công năng của thiết chế, tránh được tình trạng thiết chế chỉ là cái vỏ không hồn, chỉ tạo nên sự phản cảm trong con mắt của người dân như là một sự lãng phí tiền của và minh chứng cho bệnh chạy theo thành tích nhất thời, không thực chất.

Mặt khác, để tổ chức tốt các hoạt động văn hóa tại thiết chế thì rất cần nghiên cứu, nắm vững đối tượng mình sẽ phục vụ. Phải hiểu được cái “gu” văn hóa và nhu cầu vui chơi giải trí của thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Đây là loại đối tượng thường hướng tới những hoạt động mạnh mẽ, vui tươi và mới mẻ… ngay cả sự học là việc đòi hỏi thái độ nghiêm túc nhất thì với đối tượng này vẫn tốt nhất, hiệu quả nhất là lựa chọn phương thức “chơi mà học, học mà chơi”. Để thực hiện phương thức này thì vai trò của các thiết chế văn hóa sẽ là không nhỏ khi đáp ứng nhu cầu văn hóa, nhu cầu học tập, vui chơi lành mạnh, có ích của thế hệ trẻ.

Vấn đề thứ ba là về công tác phối hợp giữa Trung ương Đoàn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các ngành khác. Trước hết, Trung ương Đoàn cần và nên giữ mối quan hệ phối hợp trong các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cơ sở Chương trình phối hợp đã ký kết giữa hai bên, đặc biệt là trao đổi về nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, xây dựng chương trình phối hợp giữa thiết chế văn hóa thuộc hệ thống của hai bên.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa hướng tới tuổi trẻ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Trung ương Đoàn và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lich cần quan tâm trong việc xây dựng các cơ chế chính sách liên tịch liên quan đến đầu tư, triển khai các đề án, dự án mà trong đó có sự can dự của hai bên. Chẳng hạn như đề án xây dựng các Festival quốc tế về thanh thiếu niên và văn hóa; khai thác và sử dụng các điểm du lịch, xây dựng các mô hình khu vui chơi giải trí dành riêng cho giới trẻ như nhiều nước đã làm; tuyên truyền, giáo dục, truyền dạy về văn hóa, nghệ thuật dân tộc cho thiếu niên, nhi đồng tại các thiết chế văn hóa của Đoàn.v.v..

Trung ương Đoàn có thể xây dựng chương trình phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam  trong việc sử dụng, phát huy công năng của các thiết chế văn hóa công đoàn hiện nay vào giáo dục và phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của thanh thiếu niên.

Vấn đề thứ 4 là Trung ương Đoàn cần xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa thuộc Trung ương Đoàn để làm căn cứ quản lý và tổ chức hoạt động theo định hướng và phù hợp với tình hình mới. Văn bản này cũng sẽ là căn cứ để các thiết chế văn hóa, trong đó có các thiết chế văn hóa thiếu niên nhi đồng chủ động trong hoạt động của mình.

Ths Trần Minh Chính
Phó cục trưởng Cục Văn hoá cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
11:27 30/08/2014
Những năm qua, đội ngũ giảng viên đại học nước ta đã có những bước tiến đáng kể cả về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp lẫn số lượng, trình độ và năng lực chuyên môn. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học, đội ngũ giảng viên đại học hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
Quay trở lại đầu trang