VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 12:08 | 14/10/2019 (GMT+7)
.

Di sản không của riêng ai

08:02 | 05/05/2019
Tiếc nuối một nhà thờ bị cháy tận bên Tây hay lo lắng cho số phận một nhà thờ cổ sắp bị dỡ bỏ ở ta - Đấy thật ra đều là mối quan tâm chính đáng của con người đối với di sản mà họ thuộc về hay ngưỡng vọng, không cứ là “bên lương” hay “bên giáo”.

Chiều dài trầm tích

Các công trình tôn giáo thường có tuổi thọ cao. Nhà thờ Đức Bà Paris 800 năm tuổi không phải là công trình tôn giáo lâu đời nhất. Có rất nhiều những công trình tôn giáo khác cũng đã tồn tại rất lâu. Nếu xét về số lượng thì công trình tôn giáo chiếm đại đa số trong các di sản, nguyên nhân là bởi vì chúng gắn chặt với đời sống tinh thần và đức tin của con người. Nhờ vào tính thiện của các tôn giáo nói chung và mối cố kết với cộng đồng nên các công trình này thường được xây dựng cẩn thận, được chăm sóc và trùng tu thường xuyên. 


Nhà thờ Bùi Chu, Nam Định 

Nhiều người nói rằng phải là nhà giàu mới bảo vệ được di sản, điều này có thể còn nặng thiên kiến. Cách đây 4 năm, tôi từng có dịp làm việc với UNESCO trong một đồ án cá nhân ở thung lũng Bamyan - một vùng đất thuộc Afghanistan vừa trải qua chiến tranh với ISIS và thuộc loại nghèo nhất thế giới. Di sản lớn nhất mà họ có, đó là một bức tượng Phật khổng lồ được đẽo vào trong lòng vách núi đá. Bức tượng đã bị phiến quân phá hủy và không thể phục hồi. Còn lại ở đó là tàn tích của bức tượng và vẫn được coi là di sản của nhân loại. UNESCO đã tổ chức một cuộc thi thiết kế kiến trúc ở thể thức chuyên nghiệp và thu hút hơn 1.000 đề xuất (chỉ đứng sau lượng đề xuất 2.000 bài cho bảo tàng Guggenhiem tại Helsinki được tổ chức cùng thời điểm). Danh sách rút gọn 25/1000 có cơ hội làm việc trực tiếp với văn phòng tổng thống Afghanistan vào năm 2015, điều mà có nằm mơ tôi cũng không nghĩ đến. Sau đồ án thì tôi cũng tự học thêm về đất nước và tôn giáo của họ, đó là những cơ hội học hỏi đáng quý. Cả Thế giới đã biết đến Bamyan chỉ sau một cuộc thi như vậy. Cuộc thi gây được tiếng vang và người ta đủ tiền để xây dựng một nhà bảo tàng ở đó. Vì thế cá nhân tôi tin rằng di sản thực sự chỉ mất đi khi mà đức tin của con người biến mất.

Tôi từng có dịp đến nhà thờ L’esglesia de Sant Joan del Mẻcat, công trình được xây dựng đúng 800 năm trước tại Valencia, Tây Ban Nha. Đây chỉ là một nhà thờ nhỏ. Xét về quy mô, nó chưa thể sánh được với thánh đường chính của thành phố Valencia (chỉ cách đó chưa đến 500m) nhưng cá nhân tôi rất yêu thích nhà thờ này, nó phản ánh cả một chiều dài lịch sử trầm tích và cho thấy sự chuyển mình của nghệ thuật thế giới qua các giai đoạn khác nhau, từ phong cách Gothic vào thế kỷ XIV cho đến khi được cải tạo và trùng tu dưới sự ảnh hưởng của nghệ thuật Baroque vào thế kỷ XVIII.

Cần hay không cần?

Nhà thờ Lớn Hà Nội, Nhà thờ chính tòa Bùi Chu, Nhà thờ Trà Cổ, Nhà thờ Gỗ Kontum…  - phần lớn các nhà thờ cổ 100 - 200 tuổi ở Việt Nam đều… chưa được coi là di sản. Về phương diện hành chính là như vậy. 

Các công trình nhà thờ, tôn giáo, mặc dù được hiểu là công trình công cộng nhưng thực chất chúng luôn thuộc về quyền quản lý của giáo xứ, giáo phận, giáo hội. Về lý thuyết, bảo tồn phải gắn liền với phát triển. Nhìn vào tất cả các nhà thờ công giáo thì ta thấy đều bộc lộ mâu thuẫn giữa hai vấn đề kể trên, bảo tồn - phát triển. Nếu các nhà thờ “đứng vào hàng ngũ” di sản thì buộc phải tuân theo những đòi hỏi khắt khe của quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích. Trong khi đó các yêu cầu bức thiết về an toàn, về khả năng vận hành đáp ứng nhu cầu thực hành tôn giáo của bà con giáo dân thì hiện hữu hàng ngày hàng giờ. Chính vì thế các giáo xứ thường chọn giải pháp “đứng bên lề’’ di sản vì khi đó họ chỉ cần tuân thủ các vấn đề về kỹ thuật và an toàn công trình mà thôi.

Các giáo xứ ở ta về cơ bản là không dư giả gì. Chi phí cải tạo, duy tu thì đắt đỏ nên họ không có tiền để làm. Giữa nhu cầu bức bách của cuộc sống và trùng tu thì hẳn nhiên là người ta phải chọn giải pháp khả thi hơn, đó là xây nhà thờ mới để phục vụ mưu cầu thực hành tôn giáo. Công trình mới chắc chắn không thể đẹp được như Nhà thờ cũ nhưng chí ít là nó an toàn và đáp ứng được yêu cầu sử dụng cơ bản. 

Các nhà thờ cũ thì quý lắm, chưa cần bàn về giá trị kiến trúc, chỉ cần giá trị lịch sử thôi đã là duy nhất và cần phải lưu giữ cho các thế  hệ sau. Tuy vậy, các công trình đó không chỉ là địa điểm quý giá để học tập, tham quan du lịch mà còn là những công trình thuộc về giáo hội, thuộc về bà con công giáo. Có ý kiến là xin cấp cho giáo xứ một mảnh đất khác để xây nhà thờ mới xem ra là hợp lý trong bối cảnh này. Như vậy nó mới rốt ráo, vừa giữ được công trình cũ để mưu sự trùng tu, bảo tồn, vừa có chỗ cho bà con giáo dân xây dựng công trình mới theo điều kiện kinh tế của họ. 

Thêm nữa, cần phải khẳng định rằng việc phản đối phá hủy các nhà thờ, công trình cổ thường đến từ cái thiên tính tốt đẹp của mọi người (bao gồm nhiều kiến trúc sư). Họ đã nỗ lực vượt ra ngoài những lợi ích của cá nhân để hướng tới trách nhiệm với cộng đồng.

Thành thực mà nói, di sản không được quy định bởi dăm ba tờ giấy chứng nhận. Di sản còn là ký ức, kỷ niệm trong lòng con người. Cùng ngồi lại với nhau để tìm ra giải pháp, làm sao cho vẹn cả đôi đường, như vậy có lẽ là hợp lý hơn. 

Mối quan tâm chính đáng

Tôi từng tham dự một cuộc họp nghiên cứu khả thi và đề xuất tái định hướng kiến trúc cho một ngôi làng ở miền trung nước Đức. Các nhà chuyên môn đã trình bày kế hoạch tổng mặt bằng trước sự nghênh đón của các nhà đầu tư tiềm năng, chính quyền địa phương, IBA Thuringia (Tổ chức về di sản và Triển lãm Quốc tế) và đặc biệt là nhóm 100 người dân trong thị trấn nhỏ có dân số 750 người này. 

Nếu không tính tới sự có mặt của các chuyên gia và nhà đầu tư thì tôi thực sự ấn tượng với số lượng người dân đến tham dự cuộc họp. Đó là cách làm việc mà một đồ án cải tạo, tái định hướng đô thị cần có. Nó nên là một hoạt động dân chủ. Với dân số cả làng chỉ dừng lại ở một con số khiêm tốn 750 người thì việc có đến 100 người tham gia cho thấy rằng người dân thực sự quan tâm đến môi trường sống trong tương lai của họ, của con cái họ, họ quan tâm đến lịch sử thuộc về họ và những giá trị bản sắc lâu đời chỉ họ mới có mà thôi. Giá trị đó xuyên suốt hàng trăm năm, nó hiện ra ở đâu? Ở một cái tu viện, ở những con đường dốc ngoằn nghèo lên xuống thị trấn từ chân đồi. Nó hiện diện ở trong cách đi đứng, ăn mặc, cách nói năng và cả cách nghĩ của họ, nó hiện diện trong các hoạt động sống thường ngày, trong công việc, trên các cánh đồng. Nó hiện ra trong ánh mắt của một người thợ rèn có bố và ông nội đều là những người thợ, nó hiện ra dưới những tán lá nho trong một nông trại. Nó có thể là một cái giường mà đã chứng kiến những cơn đau đẻ của một bà mẹ hay là một chiếc ghế ở bậc thềm. Ý thức về một cuộc sống gấp gáp, bận rộn mà các kiến trúc sư vốn có ở thành thị khi mang tới đây bỗng trở nên nực cười và lạc lõng, chính vì thế mà người kiến trúc sư cần phải đi thăm hiện trạng là vì thế. Anh không thể thiết kế cho một đối tượng nếu anh không hiểu đối tượng đó là những ai và họ sống ra làm sao. 

Một thành phố hay một ngôi làng nhỏ, nó không chỉ có cái hình hài của nó, phần xác của nó hiện hữu ngoài đời thực còn phần hồn thì hiện ra sống động trong tâm tưởng của mỗi người. Nó thuộc về mỗi người là vì thế. Ngày hôm nay, chúng ta buồn đau vì nhà thờ Đức Bà bị cháy ở bên Pháp, hay lo lắng cho số phận của nhà thờ Bùi Chu, đấy là người ta tiếc thương cho cái phần trong tâm tưởng của người ta chứ mấy ai thấu hiểu về cấu trúc, giá trị văn hóa, nghệ thuật của cái nhà thờ đó. Chính vì thế sự hoài niệm của người dân là chính đáng và cần được tôn trọng, bất kể người đó là ai. 

Nhìn vào buổi họp trình bày phương án của kiến trúc sư với hội đồng kể trên, cá nhân tôi luôn nghĩ về những buổi họp như vậy ở Việt Nam, nó có thể là ở Đà Lạt, ở Sài Gòn, ở Hà Nội, ở bất cứ đâu. Liệu nó có xảy ra hay là nó chưa bao giờ xảy ra. Và liệu rằng ai mới có được cái “đặc quyền” để ngồi vào những buổi họp như thế? Những buổi thảo luận nằm trong bí mật rồi đến khi thực tế an bài rồi mà người dân vẫn chưa nắm được ai là nhà đầu tư.

Có thể thấy rằng ở Việt Nam rất hiếm có những cuộc thảo luận, tranh luận tương tự. Đừng vội đổ hết cho chính quyền, chính chúng ta cũng có lỗi ở đó, bởi vì chúng ta đã không dành đủ sự quan tâm đúng mức cho những gì thuộc về ta, cho những giá trị thuộc về lịch sử và tương lai của chúng ta. Có một bộ phận đông đảo người dân không quan tâm vì nghĩ đó không phải là việc của mình, điều này là dễ hiểu bởi lẽ những người đó chưa từng có khái niệm về những thứ mà người ta được quyền có.

Ngày hôm nay, chúng ta có thể tiếc nuối như những công dân toàn cầu cho một nhà thờ ở bên Pháp, nhưng ngày mai và nhiều ngày sau đó, ta cũng nên dành sự quan tâm chút ít đến mảnh vườn của ta, cho cái cây táo ta trồng sau nhà, cho bầu không khí mà ta hít thở hoặc cho miếng cơm ta ăn hàng ngày bởi lẽ chúng ta đã được sinh ra từ những thứ như thế đó. 

KTS Lê Quang (từ Berlin)
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang