VĂN HÓA - GIÁO DỤC
Cập nhật 15:45 | 17/09/2019 (GMT+7)
.
Giáo dục nghề nghiệp - Chìa khóa phát triển nguồn nhân lực

Bài 2: Có bột phải gột nên hồ

07:55 | 27/08/2019
Cơ cấu phân luồng đã có, nhận thức xã hội về học nghề nhiều chuyển biến, nhưng cơ chế phân luồng, chính sách và giải pháp cụ thể giúp học sinh định hướng theo năng lực bản thân chưa thực sự hiệu quả. Thế nhưng cũng phải thừa nhận, giáo dục nghề nghiệp vẫn còn thiếu sức hút cần thiết để học sinh tự tin bước chân vào.

>> Bài 1: Lọt sàng nhưng chẳng xuống nia

Thiếu năng động, nhạy bén

“Ở Lâm Đồng, khi chúng tôi đi tiếp xúc cử tri, có gia đình nói rằng phải bán cả ruộng nương cho con đi học quản trị kinh doanh quốc tế ở TP Hồ Chí Minh, giờ đại biểu xem thế nào giải quyết cho con tôi đi làm. Đó là tâm lý từ ngày xưa, cứ học đại học về thì làm cán bộ. Bây giờ phải làm thế nào để con em đồng bào học được một nghề gắn với địa phương để phát triển kinh tế, nghề đó không đánh tội gia đình phải bán đất, bán rừng, bán kế sinh nhai mà đáp ứng chính điều kiện ở địa phương”. Đó là trăn trở của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Triệu Thế Hùng. Bày tỏ như vậy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Triệu Thế Hùng cho rằng, trả lời câu hỏi ấy chính là giáo dục nghề nghiệp (GDNN), là định hướng học nghề.

Báo cáo với Đoàn giám sát của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ về tình hình thực tế tại cơ sở, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 TP Hà Nội Nguyễn Ngọc Thức nêu, nhiều nơi mở chương trình đào tạo tuyển đối tượng đi xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)… người lao động sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền để đi. Còn ở đây là đào tạo tay nghề, làm nghề lâu dài, được Nhà nước quan tâm, doanh nghiệp có nhu cầu mà bên dạy - bên học không gặp nhau. Như vậy, vấn đề không chỉ là tâm lý sính bằng cấp mà tính năng động của hệ thống đào tạo nghề chưa cao, chưa bắt kịp nhu cầu thị trường lao động.


Thực tế giám sát tại các cơ sở GDNN ở Lai Châu, Hà Tĩnh, Bạc Liêu, Cần Thơ, thậm chí ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, cho thấy chất lượng đào tạo còn nhiều tồn tại, bất cập. Không ít trường nghề gặp vướng mắc trong quá trình chuyển đổi ngành nghề đào tạo, mở mã ngành mới đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường, đặc biệt là những trường chuyển quản lý nhà nước từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, khó khăn về chuẩn đội ngũ, giáo viên dạy nghề nhưng không thuộc nghề vì trước đây tỷ lệ học lý thuyết chiếm tới 70% chương trình đào tạo…

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất chưa tạo đà cho đào tạo nhân lực của thời đại công nghiệp 4.0. Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Tạ Văn Hạ băn khoăn khi làm việc với tỉnh Lai Châu: “Tôi nhớ mấy năm trước lên đây công tác, mạng công nghệ mới chỉ 2G, 3G, nhưng giờ đã lên 4G, 5G. Trước đây, con em đồng bào dân tộc thiểu số chỉ cần biết đến máy tính, điện thoại đã tốt lắm rồi, còn bây giờ các em dùng điện thoại thông minh, thành thạo vi tính. Ấy thế nhưng trường nghề vẫn sử dụng mô hình máy móc của chục năm trước để giảng dạy thì rõ ràng rất lạc hậu. Học nghề muốn có lực phải tận dụng ưu thế, không để tình trạng nhiều trường cứ ngừng dự án, đầu tư, là lao đao, đi xuống”.

Bài toán “nội sinh”

 Tính trung bình năm 2018, tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp trình độ trung cấp, cao đẳng có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt khoảng 85% (trong đó cao đẳng 87%, trung cấp 82%). Năm 2017, tỷ lệ tương ứng là 80% (cao đẳng 79%, trung cấp 82%).

“Gió đã xoay chiều”, đó là nhận định của Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ Cao Đình Thưởng, thành viên Đoàn giám sát, về nỗ lực tạo chuyển biến tích cực của một số trường nghề mấy năm gần đây. Qua số liệu báo cáo cũng như khảo sát tại cơ sở cho thấy, bức tranh GDNN đã có nhiều thay đổi. Kinh tế chậm phát triển, nhu cầu học nghề ít, ngược lại, muốn phát triển kinh tế, doanh nghiệp cần nhiều lao động, nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu cũng cần nhiều lao động, thương mại dịch vụ cũng vậy... Đó là mối quan hệ cộng sinh, song trước hết đòi hỏi năng lực rất lớn từ phía cơ sở GDNN.

Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Quân cho biết, một số vấn đề tồn tại hiện nay như ở Đà Nẵng, các trường không chuyển đổi đào tạo công nghệ cao thì không tuyển sinh được. Hay nhiều trường phải lên Tây Bắc để ký kết đào tạo, bởi nhân lực khan hiếm, các vùng kinh tế trọng điểm rất thiếu nguồn nhân lực tại chỗ, phải hút nơi khác về, như Hải Phòng theo kế hoạch phát triển kinh tế sắp tới cần đến 300.000 lao động, mà nguồn lao động tại chỗ không còn. Nhu cầu dạy nghề đa dạng như vậy, nếu “kêu” thì trước hết nhiều cơ sở GDNN phải xem lại mình.

Nhấn mạnh năng lực tự thân là cốt yếu nhưng nhiều đại biểu cũng chia sẻ với trường nghề. Bởi vấn đề chất lượng, nhân lực không phải có thể thực hiện trong ngày một ngày hai. Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Trần Thị Hoa Ry dẫn chứng, tỉnh Bạc Liêu đã xác định 5 trụ cột phát triển kinh tế - xã hội, lấy nền tảng là nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có những nghề chưa có giáo viên. “Nói cơ sở vật chất thì có thể đầu tư ngay nhưng giáo viên để đáp ứng đào tạo thì không đơn giản”.

Theo Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Tây Ninh Huỳnh Thanh Phương, nhìn theo trục dọc, hệ thống GDNN dường như là khâu yếu nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân, do vậy cần thiết phải có cú hích năng lực. “Ba trụ cột làm nên chất lượng đào tạo là chương trình, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các trường có thực hiện đồng bộ không? Nói tuyển sinh khó, có một nguyên nhân là trường chủ quan, chưa chủ động tạo nên thương hiệu cho mình”.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ Triệu Thế Hùng cũng cho rằng, thời gian qua, nhiều chính sách pháp luật đặt ra nhưng chưa thực hiện tới nơi tới chốn. Song có lẽ các cơ sở cũng nên soi lại mình, tại sao trong bối cảnh thách thức chung, có trường bứt phá, có trường lại thụt lùi? “Trước hết, hãy liên tục bồi dưỡng để đào tạo những gì xã hội cần chứ không phải đáp ứng bằng cái ta có. Đã đến lúc giáo dục, nhất là GDNN không thể ngồi chờ” - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Triệu Thế Hùng nói.

Lê Thư
Xem tin theo ngày:
GIÁO DỤC
08:12 14/09/2019
Theo kết quả xếp hạng đại học thế giới 2020 (World University Rankings 2020) của Thời báo Giáo dục đại học (Times Higher Education, THE), lần đầu tiên ĐHQG Hà Nội có mặt trong danh sách này, cùng với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thuộc nhóm 801 - 1.000 thế giới, ĐHQG TP Hồ Chí Minh ở nhóm 1.000+. Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội Nguyễn Hoàng Hải cho biết, bảng xếp hạng của THE có một số tiêu chí hàm chứa độ thách thức cao hơn đối với giáo dục đại học Việt Nam nói chung, nên đây là sự ghi nhận nỗ lực và khẳng định vị trí của 3 cơ sở giáo dục đại học.
Quay trở lại đầu trang