PHÁP LUẬT
Cập nhật 12:09 | 26/08/2019 (GMT+7)
.

Một vài suy nghĩ về đối thoại phòng chống tham nhũng (2007 - 2011) và sự đóng góp của nó cho sự nghiệp phòng chống tham nhũng tại Việt Nam

07:21 | 23/11/2011
Từ năm 2007, mỗi năm hai kỳ chính phủ Việt Nam dưới sự chủ trì của Ban chỉ đạo TƯ về PCTN, Thanh tra Chính phủ, và các bộ, ngành đã phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển tổ chức đối thoại phòng chống tham nhũng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2007 cho đến tháng 5 năm 2011 đã có chín cuộc đối thoại được tổ chức. Các cuộc đối thoại này tập trung vào hai trọng tâm chính. Trọng tâm thứ nhất là việc thực hiện Luật phòng chống tham nhũng đã được Quốc hội thông qua năm 2005 và có hiệu lực năm 2006. Trong khuôn khổ thực hiện Luật này, các cuộc đối thoại nhấn mạnh những khía cạnh thực hiện như công tác phối hợp xử lý vụ việc tham nhũng (Đối thoại I, tháng 8 năm 2007), tiến trình và những khó khăn trong công cuộc phòng chống tham nhũng và vai trò tham gia của xã hội (Đối thoại II, tháng 12 năm 2007; Đối thoại III, tháng 6 năm 2008), và vai trò của báo chí trong sự nghiệp phòng chống tham nhũng (Đối thoại IV, tháng 11, năm 2008). Trọng tâm thứ hai là hiện tượng tham nhũng ở một số ngành quản lý nhà nước mũi nhọn như  đầu tư - xây dựng (Đối thoại V, tháng 5 năm 2009), y tế (Đối thoại VI, tháng 11 năm 2009), giáo dục (Đối thoại VII, tháng 5, năm 2010), đất đai (Đối thoại VIII, tháng 11 năm 2010) và tài nguyên khoáng sản (Đối thoại IX, tháng 5 năm 2011). Trước cuộc đối thoại V về đầu tư xây dựng đã có cuộc hội thảo bàn tròn được khởi động một cách không chính thức lần đầu tiên để chia sẻ thông tin khảo sát. Việc tổ chức hội thảo bàn tròn này đã được thể chế hóa thành một diễn đàn mở rộng áp dụng cho các cuộc đối thoại sau đó.

Việc tổ chức các cuộc đối thoại thường niên mỗi năm hai kỳ trong 5 năm qua thể hiện sự cam kết và sự cởi mở của chính phủ Việt Nam trong việc chia sẻ kinh nghiệm về phòng chống tham nhũng giữa Việt Nam và cộng động quốc tế.  Một số cuộc đối thoại và hội thảo bàn tròn đã nhận được sự quan tâm của lãnh đạo chính phủ và các bộ, ngành. Đáng ghi nhớ là sự có mặt của nguyên Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng tại cuộc Đối thoại I, sự có mặt và tham gia tích cực của Chủ nhiệm văn phòng BCĐTƯ về phòng chống tham nhũng Vũ Tiến Chiến tại cuộc họp trước đối thoại về tham nhũng trong ngành đầu tư xây dựng do Sứ quán Đan Mạch tổ chức, và sự có mặt của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu tại Đối thoại VI. Sự tham gia của các vị lãnh đạo cấp cao thể hiện mối quan tâm của chính phủ và các cơ quan quyền lực - một yếu tố không thể thiếu để đảm bảo cho cuộc đối thoại có được kết quả.

Nhìn tổng thể, các cuộc đối thoại này đã đóng góp đáng kể cho việc củng cố sự hiểu biết về hiện tượng tham nhũng tại Việt Nam cũng như trong lĩnh vực quản lý nhà nước và dịch vụ công. Những nội dung về nguy cơ tham nhũng được thảo luận tại các cuộc đối thoại có  ảnh hưởng lớn tới việc định hướng xây dựng kế hoạch phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả.

Đối thoại củng cố sự hiểu biết về hiện tượng tham nhũng tại Việt Nam

Các cuộc đối thoại hỗ trợ củng cố sự hiểu biết về những nguy cơ tham nhũng, hình thức tham nhũng và nguyên nhân tham nhũng. Một công đoạn của phần lớn các cuộc đối thoại là việc tiến hành khảo sát chuyên đề về thực trạng tham nhũng làm đầu vào cho các cuộc đối thoại. Khảo sát về tham nhũng tại Việt Nam không phải là hoàn toàn mới. Năm 2005, Ban Nội chính TƯ lần đầu tiên đã tiến hành một cuộc khảo sát khá toàn diện về hiện tượng tham nhũng tại Việt Nam. Từ năm 2007, đã có thêm kết quả khảo sát về việc thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng cũng như hiện tượng tham nhũng trong các ngành đầu tư - xây dựng, y tế, giáo dục, đất đai, và khoáng sản. Những cuộc đối thoại chuyên đề này, nhìn một cách tổng thể, đã cung cấp một bức tranh về sự đa dạng của nguy cơ tham nhũng và những hình thức tham nhũng có thể nảy sinh từ các chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ.

Đối với ngành đầu tư xây dựng, tham nhũng có thể xuất hiện trong quá trình quản lý nhà nước hoặc trong quá trình tương tác giữa bộ máy chính quyền và khu vực tư nhân là đơn vị tiến hành các dự án. Các khâu có nguy cơ tham nhũng chính là các khâu quyết định đầu tư, phân bổ và giao vốn đầu tư, công tác thẩm tra, thẩm định, tham gia ý kiến đối với chiến lược quy hoạch, chương trình, dự án; xác định chủ đầu tư dự án, công tác đấu thầu, công tác quản lý và thực hiện dự án đầu tư, và việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA.

Đối thoại trong ngành y tế và giáo dục cung cấp một bức tranh sinh động về hiện tượng tham nhũng trong quá trình cung cấp dịch vụ công mà đối tượng tham gia trong quá trình và cách vận hành của quá trình khác với ngành đầu tư xây dựng. Trong ngành giáo dục, tham nhũng có thể xảy ra trong lĩnh vực quản lý nhà nước như in ấn và phát hành sách giáo khoa hoặc việc các trường chạy đua theo danh hiệu – thành tích và việc quản lý tiền thù lao phụ cấp giảng dạy. Tham nhũng cũng có thể được thể hiện trong quan hệ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ và “khách hàng” thể hiện trong việc chạy điểm, chạy trường, dạy thêm học thêm, và việc phân lớp, chọn lớp. Trong ngành y tế, ngoài những nguy cơ tham nhũng trong quản lý nhà nước như lĩnh vực dược hoặc mua sắm, tham nhũng cũng đã thể hiện trong quan hệ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ và khách hàng. Những hình thức chính là việc chi trả viện phí không chính thức thông qua “phong bì”, việc điều trị quá mức cần thiết để tăng thu, và việc gian lận trong bảo hiểm y tế.

Đối thoại về nguy cơ tham nhũng trong lĩnh vực đất đai tập trung vào một khía cạnh riêng biệt khác với những nội dung thảo luận trong các ngành quản lý khác. Đối thoại nhấn mạnh nguy cơ tham nhũng trong các khâu thủ tục hành chính là quan hệ giữa đơn vị công cung cấp dịch vụ hành chính và người dân. Cuối cùng, Đối thoại về tài nguyên khoáng sản nhận diện những nguy cơ tham nhũng trong các khâu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cấp phép, khai thác khoáng sản và các quy định về bảo vệ môi trường và tái định cư của các cộng đồng địa phương. Cũng giống như với ngành đầu tư xây dựng, tham nhũng trong lĩnh vực khoáng sản xảy ra trong sự tương tác giữa khu vực công, tư, và cộng đồng.

Một số đối thoại, ngoài việc phân tích vấn đề từ góc độ cấp ngành, đã có mở rộng phân tích định tính đến cấp địa phương để bước đầu phác họa những nguy cơ tham nhũng từ góc độ so sánh và trong khuôn khổ phân cấp quản lý. Những khảo sát hỗ trợ đối thoại về đầu tư xây dựng, chẳng hạn, phân tích thực trạng đầu tư xây dựng và cách tiếp cận phòng ngừa tham nhũng và chống lãng phí trong ngành nông nghiệp phát triển nông thôn, giao thông vận tải và xây dựng tại TP. Đà Nẵng và tỉnh Bắc Ninh. Đà Nẵng và Bắc Ninh là hai điểm đại diện cho kinh nghiệm tại khu vực thành thị và nông thôn. Cuộc khảo sát về ngành y tế so sánh bước đầu các cơ sở khám chữa bệnh do TƯ và các tỉnh quản lý, có tham khảo kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương và Ninh Thuận đại diện cho tỉnh có thu nhập cao và tỉnh có thu nhập thấp. Kết quả khảo sát địa phương cho thấy tính đa dạng của nguy cơ tham nhũng tại các địa phương không hoàn toàn giống nhau.

Về tổng thể, các cuộc đối thoại đóng góp cho sự hiểu biết về tham nhũng qua hai mặt chính. Thứ nhất, cuộc đối thoại củng cố sự hiểu biết về hiện tượng tham nhũng trong các khâu quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công, cả dịch vụ phát triển con người và dịch vụ hành chính công. Trong khu vực công, trong thực tế, có sự phân biệt giữa cấp quản lý TƯ và địa phương trong khuôn khổ phân cấp quản lý tại Việt Nam. Cũng có sự phân biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nhiệp nhà nước, và những đơn vị cung cấp dịch vụ. Nhưng cơ bản, tham nhũng xảy ra trong sự tương tác giữa người giao việc, người thực thi công việc và khách hàng/người thụ hưởng. Những đóng góp của đối thoại không chỉ hạn chế ở các ngành trực tiếp tham gia cuộc đối thoại mà còn đóng góp cho các ngành khác có chức năng quản lý nhà nước tương tự. Thứ hai là các vấn đề liên quan đến nguy cơ tham nhũng trong khu vực tư mà Luật Phòng chống tham nhũng chưa đề cập đến. Trong thực tế, kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự gắn kết giữa tham nhũng trong khu vực công, và một số khảo sát đầu vào cho các cuộc đối thoại cũng khẳng định mối quan hệ này. Trong khu vực tư, có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình và người dân thuộc các thành phần khác nhau. Những tương tác giữa công yêu cầu phải quan tâm đến khía cạnh “cung” của nguy cơ tham nhũng.

Đối thoại hỗ trợ định hướng kế hoạch phòng ngừa tham nhũng

Ngoài việc củng cố sự hiểu biết về hiện tượng tham nhũng, chín cuộc đối thoại cũng đóng góp đáng kể cho việc nhận diện cách tiếp cận đề phòng tham nhũng trong khuôn khổ Luật Phòng chống tham nhũng của Việt Nam cũng như trong khuôn khổ Công ước Liên hiệp quốc về phòng chống tham nhũng. Đối thoại II tập trung vào tiến trình thực hiện Luật phòng chống tham nhũng. Trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, các khâu thực hiện tập trung vào việc lập kế hoạch hành động, theo dõi, giám sát việc thực hiện, vai trò và trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, và sự tham gia của xã hội và báo chí. Những đối thoại III và IV mở rộng thêm việc phân tích nội dung thực hiện và đi sâu vào những khía cạnh như sự tham gia và vai trò của báo chí. Đối thoại V xem xét kế hoạch thực hiện các ngành lựa chọn. Đối thoại VI đến IX không đi sâu về kế hoạch thực hiện tổng thể mà chỉ nhấn mạnh một số biện pháp. Nhìn chung, chín cuộc đối thoại với hai trọng tâm chính về việc thực hiện Luật PCTN và tham nhũng ngành đóng góp cho việc định hướng kế hoạch thực hiện.

Các cuộc đối thoại cụ thể hóa một số nội dung chủ yếu như sau:

Một, kết quả thảo luận tại các cuộc đối thoại hỗ trợ làm rõ hơn những điểm khác và giống nhau của những nguy cơ tham nhũng trong các khâu quản lý nhà nước và trong các khâu cung cấp dịch vụ công trong các ngành khác nhau. Việc này sẽ đóng góp cho các ngành, các cấp xây dựng kế hoạch phòng ngừa với những trọng tâm ưu tiên thích hợp.

Hai, những kết quả của các cuộc đối thoại hỗ trợ việc xác định quan hệ giữa người giao quyền, người thực thi công việc và “khách hàng” từ cả trong khu vực công lẫn khu vực tư. Đối với khu vực công, trong khuôn khổ bộ máy quản lý của Việt Nam, có sự phân biệt giữa vai trò và trách nhiệm của chính quyền TƯ và địa phương cũng như cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị cung cấp dịch vụ. Về phía khu vực tư, khái niệm khu vực tư chưa phải là khái niệm thống nhất. Trong nhóm dân, có sự phân biệt dựa trên thành phần kinh tế khác nhau cũng như địa bàn dân cư khác nhau. 

Ba, những kết quả của các cuộc đối thoại hỗ trợ cụ thể hóa khía cạnh “cung” của tham nhũng, tức là việc đưa hối lộ, bổ sung thêm cho việc nhấn mạnh khía cạnh “cầu”, tức là việc đòi hối lộ. Điểm này quan trọng vì khuôn khổ pháp luật hiện hành của Việt Nam chỉ tập trung vào khu vực công. Cho đến nay, quan hệ công - tư của tham nhũng chưa được đánh giá đúng mức trong khi kinh nghiệm từ các nền kinh tế đang phát triển cho thấy quan hệ công- tư trong tham nhũng chính là hạt nhân thật sự trong cuộc chiến chống lại vấn nạn này.

Cuối cùng, những cuộc đối thoại đã đưa ra những biện pháp dựa trên kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, cách tiếp cận giải quyết vấn đề có kết quả cốt lõi là việc nhận diện vấn đề trong bối cảnh của Việt Nam và gắn vấn đề với giải pháp. Các cuộc đối thoại ngành đã một phần nào đó phân tích nguyên nhân tham nhũng với những yếu tố chính gồm những yếu tố thể chế, cơ chế, và yếu tố tổ chức cũng như con người. Đơn cử trong ngành y tế, những nguyên nhân thể chế tổ chức là cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở khám chữa bệnh, sự chênh lệch giữa viện phí chính thức và giá thị trường, hệ thống lương của người cung cấp dịch vụ y tế so với các ngành dịch vụ khác, sự chênh lệch thông tin giữa đơn vị cung cấp dịch vụ và người yêu cầu dịch vụ, và việc thiếu cân bằng giữa cung và cầu. Trong bối cảnh tổng thể này, vấn đề y đức cũng là một yếu tố quan trọng. Một phần nào đó, kết quả nghiên cứu phục vụ cho cuộc đối thoại khẳng định cách tiếp cận giải quyết vấn đề nguy cơ tham nhũng tại Việt Nam cần cân đối việc giảm thiểu hiện tượng tham nhũng trước mắt với việc cải cách thể chế, cơ chế tài chính, và tổ chức theo trung hạn và dài hạn. Kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới cũng cho thấy một mặt cần quan tâm đến cơ chế động lực khuyến khích khiến những bên tham gia thuộc khu vực công và tư nhân thay đổi hành vi. Mặt khác, cần phải đấu tranh với nguy cơ tham nhũng trong một bối cảnh cải cách quản trị công rộng hơn.

Ts. Thaveeporn Vasavakul
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang