PHÁP LUẬT
Cập nhật 16:10 | 25/05/2019 (GMT+7)
.
Hưởng ứng ngày Quốc tế phòng chống tham nhũng 9.12

Về hiện tượng hối lộ

07:29 | 07/12/2011
Thông thường, tham nhũng được hiểu là những hành vi lợi dụng chức vụ để vụ lợi, có thể xảy ra trong cả khu vực công lẫn khu vực tư. Trong thực tế, tham nhũng được biểu hiện qua các hành vi khác nhau. Công ước Liên Hiệp Quốc về Phòng chống tham nhũng có những điều khoản chủ trương tội phạm hóa một số hành vi được coi như là những dạng của tham nhũng. Đó là hối lộ công chức quốc gia; hối lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức; lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi; lạm dụng chức năng; làm giàu bất hợp pháp; hối lộ trong khu vực tư; biển thủ tài sản trong khu vực tư; và tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có.

Nói một cách vắn tắt, có thể nhận diện năm hành vi chính của tham nhũng là: hối lộ, chiếm đoạt tài sản, gian lận, tống tiền, và thiên vị.

Hối lộ là một hành vi tham nhũng khá phổ biến khi xuất hiện thì được coi như là vấn đề chính riêng biệt hoặc đi kèm với những hành vi tham nhũng khác. Tại một số nước đang phát triển, vì sự lan rộng của hối lộ cho nên khái niệm tham nhũng và hối lộ được sử dụng thay thế cho nhau. Theo Công ước, hối lộ được định nghĩa trên cả hai bình diện. Một là việc hứa hẹn, chào mời hay cho tặng; hai là hành vi trực tiếp hay gián tiếp, đòi hoặc nhận một lợi ích không chính đáng.

Ngày mùng 9 tháng 12 là ngày quốc tế phòng chống tham nhũng. Năm 2011, Liên Hiệp Quốc đưa ra khẩu hiệu “chống tham nhũng ngay hôm nay” (Against Corruption Today – ACT) để vận động sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau. Đây là một dịp phù hợp để nhìn lại những cách tiếp cận suy nghĩ về bản chất của hối lộ, chức năng của hối lội và những tác hại tiềm ẩn của hối lộ dựa trên kinh nghiệm đối thoại quốc tế.

Phân biệt giữa phí (giá), hối lộ, quà, và tiền thưởng

Giáo sư Susan Rose-Ackerman tại Khoa Luật và Khoa Khoa học Chính trị của Đại học Yale, Mỹ, đã vạch ra cách tiếp cận phân tích hối lộ có thể sử dụng làm điểm xuất phát cho những suy nghĩ về những hành vi tham nhũng. Trọng tâm là sự khác biệt giữa bốn phương thức chi trả trong đó có giá dịch vụ, hối lộ, quà, và tiền thưởng. Có hai khía cạnh cần được quan tâm khi xem xét bốn phương thức chi trả này. Một là quan hệ qua lại của các khoản giao dịch. Hai là vị trí của các đối tượng tham gia giao dịch, tức là phải xác định được họ là người thực thi công việc hay là người giao việc. Bốn phương thức chi trả với hai khía cạnh phân tích có thể được thể hiện trong bảng sau:


 “Giá dịch vụ” và “hối lộ” thể hiện quan hệ qua lại của một khoản giao dịch. Tuy nhiên, giá dịch vụ hoặc phí được trả cho người giao quyền trong khi hối lộ là chi trả cho người thực thi công việc. 

Quà tặng khác với giá dịch vụ ở chỗ là không thể hiện việc trao đổi qua lại một cách rõ ràng. Vai trò của quà tặng sẽ thay đổi phụ thuộc vào người tiếp nhận. Nếu quà tặng cá nhân lớn tới mức có thể có tác động đáng kể tới hành vi của người nhận, thì nghĩa là có việc trao đổi qua lại ngầm. Nếu quà tặng có điều kiện tạo ra những quan hệ trao đổi thì quà tặng đó thuộc về phần nội dung “chi phí” hoặc “giá dịch vụ”.

Trong trường hợp tiền thưởng, việc trao đổi qua lại không rõ ràng, vì dịch vụ thường được cung cấp trước khi chi trả tiền thưởng. Chức năng của tiền thưởng là tạo điều kiện cho phép “khách hàng”, người nhận được dịch vụ, đánh giá về chất lượng dịch vụ của người thực thi công việc trong các tình huống mà người giao việc có thể khó đánh giá được chất lượng. Nếu “khách hàng” hoặc người nhận được dịch vụ là người giám sát tốt hơn người giao việc thì việc chi trả thông qua tiền thưởng sẽ có ý nghĩa hỗ trợ tăng cường năng lực thực thi công việc. Ngược lại nếu người giao việc có thể suy ra được người thực thi có kết quả công việc tốt hay không thì người giao việc có thể tự trao thưởng.
Đơn cử một vài trường hợp đơn giản về bốn phương thức chi trả.

Ông A là khách hàng, thanh toán hóa đơn ăn uống để trả phí dịch vụ cho chủ nhà hàng, trong khi Ông A đưa tiền thưởng (tiền boa) cho người hầu bàn là người thực thi công việc khi Ông A bằng lòng với dịch vụ đã được nhận. 

Ông A vi phạm luật giao thông và trả tiền phạt (phí) cho nhà nước. Nếu Ông A đưa tiền cho công an giao thông để tránh việc trả tiền phạt cho nhà nuớc, có nghĩa là Ông A đang hối lộ người thực thi công việc. 

Nhà nước cung cấp luật sư miễn phí cho bất cứ ai đưa đơn kiện và thanh toán cho luật sư một khoản phí (lương) cố định.  Nhiều khách hàng chi ngầm cho luật sư của mình sau khi họ làm việc. Họ đưa tiền thưởng cho luật sư hoặc cũng có thể đưa món quà nhỏ đến nhà luật sư trong dịp nào đó...

Trong thực tế, bốn hình thức chi trả này tồn tại trong tất cả các loại hình xã hội. Nguy cơ tham nhũng phụ thuộc vào mức độ rành mạch của những phương thức chi trả này và thái độ khoan nhượng đối với sự chồng chéo giữa những hình thức chi trả khác nhau này.

Những chức năng của hối lộ

Một số cách tiếp cận kinh tế xã hội học coi hối lộ như là một công cụ giải quyết một số vấn đề thuộc thể chế và cơ chế.  Theo cách tiếp cận này, hối lộ có ít nhất bốn chức năng chính. Chức năng thứ nhất là hối lộ hỗ trợ để mở đường vào thị trường. Trường hợp này thường xảy ra trong quá trình giao dịch mua sắm công hoặc tạo cơ hội tiếp thị. Thứ hai, hối lộ đóng vai trò điều tiết cung và cầu trong quá trình khu vực công giao dịch hàng hóa và dịch vụ. Trong thực tế, có ba loại tình trạng cung làm phát sinh hiện tượng hối lộ. Một là nguồn cung cố định trong khi yêu cầu của người thụ hưởng/khách hàng cao hơn cung. Hai là nguồn cung không cố định nhưng khan hiếm. Ba là nguồn cung không khan hiếm nhưng việc cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa phải theo một quy chuẩn nào đó. Ba hình thức này sẽ làm nảy sinh hành vi hối lộ và định ra mức độ hối lộ. Thứ ba, hối lộ được coi là động cơ thúc đẩy cho người thực thi công việc làm việc tốt hơn. Cũng có thể gọi là hối lộ để bôi trơn nhằm mục đích thúc đẩy cho người nhận hối lộ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong khoảng thời gian nhất định và với chất lượng tốt hơn. Cuối cùng, hối lộ đóng vai trò hỗ trợ để giảm chi phí. Có hai tình huống có thể sử dụng hối lộ. Một là giảm chi phí do việc thực hiện theo yêu cầu của pháp luật đưa ra. Trong các khuôn khổ điều tiết của nhà nước, nhiều đối tượng có thể đưa hối lộ để được áp dụng các nguyên tắc có ưu đãi hoặc được giảm gánh nặng so với quy định. Hối lộ diễn ra trong quá trình cấp giấy phép kinh doanh, trong khi kiểm tra công trường xây dựng các tòa nhà, và trong quá trình quản lý các rủi ro môi trường và an toàn nơi làm việc. Hai là giảm bớt những khoản tài chính sẽ phải nộp theo yêu cầu như thuế và phí hải quan. Các doanh nghiệp và các cá nhân có thể thông đồng với cán bộ thu thuế và nhân viên hải quan để giảm số tiền phải nộp và đẩy nhanh dịch vụ. 

Một số học giả quốc tế đã dựng lên các mô hình kinh tế coi hối lộ có những đặc tính khích lệ hoạt động. Có nhà phân tích coi hối lộ là một phương thức phân bổ vì những đối tượng đưa hối lộ trong quá trình mua sắm hoặc mở rộng thị trường đã có sự tính toán từ trước nên các đơn vị đưa hối lộ thường là những đơn vị hoạt động có hiệu quả. Bôi trơn được coi là có lợi cho những người phải chờ đợi được cung cấp dịch vụ công vì hối lộ giúp khích lệ người thực thi công việc.  Cũng có lập luận là trong trường hợp khuôn khổ pháp lý không có hiệu quả, các khoản hối lộ để tránh các quy định pháp luật và tài chính có thể làm tăng tính hiệu quả. Hối lộ có thể giúp người đưa hối lộ vượt qua sự điều tiết thái quá. Trong lĩnh vực thuế, một số học giả cho rằng thậm chí ở các quốc gia đang phát triển, các cán bộ thuế sẽ vẫn có thể tham nhũng. Nhưng nhà cầm quyền không cần lo về tham nhũng trong ngành thuế, chỉ cần đặt ra mục tiêu thu ngân sách, mục lục nghĩa vụ thuế trên danh nghĩa và mức lương của cán bộ thu thuế. Điều kiện tham nhũng trong ngành thuế sẽ tạo cho cán bộ một sự khích lệ nào đó để tìm ra nguồn thu và chính quyền chấp thuận cho hối lộ với điều kiện cán bộ thu thuế phải đem về được khoản tiền ngang với mục tiêu thu ngân sách.

Tóm lại, có một số cách tiếp cận kinh tế xã hội coi tham nhũng như là một giải pháp cho vấn đề thể chế và cơ chế đang vướng mắc mà chưa thể thay đổi. Kèm theo là những kết luận chủ trương nên bật đèn xanh cho một số tình trạng tham nhũng nhỏ dưới hình thức hối lộ vì một phần nào đó nó xúc tiến sự phát triển trong khi khuôn khổ thể chế và cơ chế chưa hoàn toàn thuận lợi.

Nói “không” với hối lộ

Tuy nhiên, cách tiếp cận nói “không” với hối lộ đã trở thành phổ biến. Những suy nghĩ này nhấn mạnh những tác hại trực tiếp và gián tiếp của hành vi hối lộ, vô hiệu hóa bất kể những lợi ích gì nó đã mang lại. Trước tiên, hối lộ không phải là phương pháp phân bổ có hiệu quả. Những đối tượng có khả năng hối lộ không nhất thiết phải là những đối tượng hoạt động có hiệu quả nhất. Hai, hối lộ có tác hại cho nhóm người đưa hối lộ. Quá trình giao dịch dưới hình thức hối lộ là quá trình không minh bạch. Dù coi hối lộ như là phí hoặc giá cho dịch vụ hoặc sản phẩm nào đó, nhưng sẽ không biết được giá và phí cao nhất là bao nhiêu. Hơn nữa, quá trình giao dịch này gây ra sự bất bình đẳng vì những lợi nhuận công được cấp cho người trả giá cao nhất (như nhận học, tín dụng, nhà ở hỗ trợ cho người nghèo).

Ba, hối lộ, về lâu dài, có ảnh hưởng đến chức năng quản lý nhà nước. Bệnh bôi trơn có thể bị lây lan sang các lĩnh vực. Nếu bôi trơn trở thành phổ biến trong bộ máy nhà nước, người thực thi công việc tại các ngành khác nhau sẽ tập trung vào những phần công việc mang lại lợi nhuận nhất do bôi trơn mang lại.

Cuối cùng, hối lộ ảnh hưởng đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Trong thực tế, không phải luật pháp nào cũng mang lại hiệu quả và công bằng. Việc cần làm để hoàn thiện thể chế và cơ chế là thay đổi các đạo luật thiếu hiệu lực, hiệu quả thông qua những vận động hợp pháp, vận động hành lang các cơ quan công quyền để thay đổi các đạo luật và các quy định. Nếu chấp nhận tình trạng đưa hối lộ để tăng hiệu quả và giảm kinh phí, các nhà đầu tư sẽ có khuynh hướng trả những khoản hối lộ chỉ để giảm bớt tác động của tất cả những gánh nặng do nhà nước áp đặt cho dù chính đáng hay không chính đáng.  Các quốc gia cần xây dựng những cơ chế hiệu quả để biến những yêu cầu của nhân dân thành luật pháp với một sự cam kết đáng tin cậy đối với việc thực thi những luật pháp đó. Nếu các nhà đầu tư và những công dân bình thường đưa ra những đánh giá có tính chất cá nhân về việc đạo luật nào là chính đáng, đạo luật nào là không chính đáng, thì việc nỗ lực thiết lập các thể chế nhà nước sẽ thất bại. Hối lộ sẽ quyết định không những đạo luật nào sẽ được thực thi mà còn quyết định đạo luật nào sẽ được ban hành.

Một số công trình nghiên cứu của chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc về tham nhũng và phát triển con người làm rõ tham nhũng có ảnh hưởng không nhỏ đến đối tượng thuộc nhóm yếu thế, đặc biệt là người nghèo. Đối tượng nghèo khó có khả năng đưa hối lộ và vì thế họ bị thiệt thòi trong việc tiếp cận những dịch vụ cơ bản có thể tạo điều kiện cho họ thoát khỏi tình trạng đói nghèo như tiếp cận công lý và những dịch vụ hỗ trợ phát triển con người như giáo dục, y tế, và có nguồn nước sạch.

Đối với cách nhìn nhận nói không với hối lộ, về lâu dài, hối lộ được coi là một hành vi không phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và làm hại những nguyện vọng vì mục tiêu phát triển bền vững, phát triển con người, phát triển công bằng và dân chủ.

Ts Thaveeporn Vasavakul
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
20:53 10/04/2017
Toàn quốc phấn đấu không phát sinh tụ điểm phức tạp về ma túy; mỗi năm triệt xóa từ 5 - 10% số điểm, tụ điểm và mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) xây dựng được 1 mô hình điểm về phòng, chống ma túy tại xã, phường, thị trấn... Đây là mục tiêu Chương trình phòng, chống ma túy đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Quay trở lại đầu trang