PHÁP LUẬT
Cập nhật 19:25 | 15/09/2019 (GMT+7)
.
Dự thảo sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ

Nhiều nội dung chưa tương thích

08:11 | 24/04/2019
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ không chỉ hướng tới việc bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ phù hợp (SHTT) với thông lệ quốc tế mà còn là cơ hội để thực hiện tốt hơn pháp luật.

Cần nhiều phương án lựa chọn

Cam kết về SHTT là một trong những nhóm cam kết lớn và phức tạp nhất của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các cam kết này đều có nội dung hướng tới gia tăng cơ hội, mức độ và cách thức được bảo hộ của chủ thể quyền SHTT. Tương ứng với đó là tác động bất lợi, theo hướng giảm cơ hội và tăng chi phí của các chủ thể sử dụng các tài sản SHTT trong mối quan hệ với chủ thể quyền SHTT. Đây là một vấn đề cần được đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ. Bởi, ở Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, người dân… đều là các chủ thể sử dụng các tài sản SHTT, các chủ thể quyền chiếm số lượng rất nhỏ, trong đó đa phần là các chủ thể nước ngoài.

Hơn nữa, các cam kết sẽ được áp dụng theo nguyên tắc MFN (Most favoured nation) - theo nguyên tắc này, nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác - tức là không giới hạn ở các đối tác CPTPP. Như vậy, chủ thể quyền đến từ các nước phát triển về SHTT như EU, Mỹ (không phải thành viên của CPTPP) vẫn được bảo hộ theo mức của CPTPP. Chính vì thế, tác động của các cam kết là rất rộng. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, cần tận dụng tối đa các cam kết để có giải thích theo hướng có lợi nhất cho đa số. Chẳng hạn, đối với các cam kết phức tạp, cần xác định các phương án khả thi, qua đó xem xét lựa chọn phương án phù hợp nhất với bối cảnh Việt Nam. Đối chiếu với dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ đang được lấy ý kiến thì thấy, dự thảo chỉ đưa ra 1 phương án duy nhất cho mỗi sửa đổi để thực thi cam kết. Điều này, có thể dẫn đến lãng phí không gian tự do lựa chọn trong các cam kết SHTT, không cho phép nhận diện, so sánh, đánh giá tác động của mỗi phương án với các chủ thể liên quan khi thực thi, do đó không thể khẳng định phương án đề xuất liệu có phải là phương án tốt nhất không.

Chưa tận dụng được không gian cho phép

 Hiện nay, Việt Nam chỉ bảo hộ dạng nhãn hiệu dưới dạng nhìn thấy được nhưng CPTPP yêu cầu bảo hộ cả nhãn hiệu âm thanh và nếu như quốc gia nào có điều kiện thì bảo hộ nhãn hiệu mùi.

Không ít các cam kết trong Hiệp định CPTPP có nội dung khá chung, với lời văn chứa nhiều không gian lựa chọn khi chuyển hóa vào pháp luật nội địa. Tuy nhiên, một số quy định trong dự thảo lại không tận dụng được các không gian này, thậm chí còn quy định cứng ở mức cao hơn mức CPTPP yêu cầu. Chẳng hạn, dự kiến sửa đổi Khoản 1, Điều 80, Luật Sở hữu trí tuệ để làm rõ hơn về trường hợp không bảo hộ chỉ dẫn địa lý do chỉ dẫn địa lý đã trở thành “tên gọi chung” như sau: “Tên gọi, chỉ dẫn địa lý đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa theo nhận thức của người tiêu dùng có liên quan ở Việt Nam”. Trong khi đó, cam kết CPTPP đối với trường hợp này là: “Trong việc xác định liệu một thuật ngữ có phải là thuật ngữ thông thường trong ngôn ngữ phổ thông có nghĩa là tên gọi chung của hàng hóa tương ứng trong phạm vi lãnh thổ của một bên hay không, cơ quan có thẩm quyền của bên đó phải có thẩm quyền xem xét xem người tiêu dùng hiểu thuật ngữ đó trong lãnh thổ của bên đó như thế nào”. Cách quy định tại đự thảo làm hẹp phạm vi đối tượng được xem xét (từ “người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam” thành “người tiêu dùng liên quan trên lãnh thổ Việt Nam), do đó làm gia tăng khả năng một thuật ngữ có thể bị coi là “tên gọi chung” và từ đó tăng khả năng từ chối bảo hộ chỉ dẫn địa lý có chứa tên gọi chung.

Không những thế, dự thảo có thể bỏ sót nhiều trường hợp khác cần phải sửa trong Luật Sở hữu trí tuệ. Dự thảo đang được công bố lấy ý kiến được soạn thảo trên cơ sở các nội dung cần sửa đổi liệt kê tại Nghị quyết 72/2018/QH14 và chỉ dừng lại ở các nội dung được liệt kê trong Nghị quyết này. Theo đó có 11 nội dung mà Luật Sở hữu trí tuệ chưa tương thích với CPTPP. Tuy nhiên, theo rà soát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có nhiều nội dung khác chưa tương thích và cần sửa đổi trong Luật. Chẳng hạn, để thực hiện Điều 18.74.4 CPTPP về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại thì phải sửa Khoản 1, Điều 205, tuy nhiên dự thảo lại chưa chưa sửa đổi, bổ sung. Cụ thể, Khoản 2, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại”. Trong khi đó, Điều 18.74 CPTPP lại quy định, trong thủ tục tố tụng dân sự, đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm, bản ghi âm hoặc buổi biểu diễn, mỗi bên phải thiết lập hoặc duy trì một hệ thống có một hoặc nhiều quy định dưới đây: (a) các khoản bồi thường thiệt hại định trước để chủ thể quyền có thể lựa chọn; hoặc (b) các khoản bồi thường thiệt hại bổ sung”. Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ đang hẹp hơn đáng kể so với CPTPP về các trường hợp cho phép xác định thiệt hại định trước và quyền của chủ thể quyền trong xác định mức thiệt hại định trước. 

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang