PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:14 | 05/04/2020 (GMT+7)
.
Nguyên liệu gỗ nhập khẩu từ Châu Phi

Rủi ro vì thiếu thông tin

07:49 | 28/06/2019
Một trong những yêu cầu của Hiệp định Đối tác Tự nguyện FLEGT VPA được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và EU là xuất xứ, nguồn gốc gỗ phải hợp pháp. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu đến từ châu Phi (chiếm gần ¼ tổng lượng gỗ tròn và xẻ nhập khẩu vào Việt Nam) lại không bảo đảm được nguồn gốc, xuất xứ.

Lượng nhập khẩu lớn thứ 2 trên thế giới

Việt Nam nhập khẩu gỗ từ châu Phi với lượng lớn và ngày càng tăng do chính sách đóng cửa rừng tự nhiên, nguồn cung gỗ từ rừng tự nhiên trong nước gần như mất hẳn, kể cả từ một số diện tích rừng đã đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững. TS. Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cho biết, tuy tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng từ châu Phi vào Việt Nam trong năm 2018 đã giảm so với 2017, nhưng gỗ nguyên liệu, là gỗ tròn và gỗ xẻ, là một trong những mặt hàng có mức tăng trưởng khá cả về lượng (tăng 4,1%) và giá trị kim ngạch (3,9%). Đến nay, Việt Nam là nước nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ châu Phi lớn thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc.

Xu hướng tiêu dùng các mặt hàng gỗ tại Việt Nam hiện có thể chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm các gia đình thuộc tầng lớp trung lưu trẻ. Nhóm này có xu hướng sử dụng các mặt hướng đồ gỗ theo trường phái hiện đại, với chất liệu gỗ nhập khẩu từ các nguồn Mỹ, châu Âu; từ gỗ rừng trồng trong nước, hoặc các sản phẩm pha trộn giữa gỗ và các vật liệu khác. Nhóm thứ hai bao gồm nhiều người dân, từ trung đến cao tuổi, là nhóm ưa chuộng các mặt hàng gỗ có kiểu dáng truyền thống, với các loài gỗ tự nhiên, bao gồm các loại gỗ quý. Gỗ châu Phi nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhóm thứ hai. Bên cạnh đó, một lượng gỗ nhập khẩu từ nguồn này được sử dụng trong các công trình khác và làm gỗ xây dựng.

Thay đổi trong chính sách quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam và tại một số quốc gia cung gỗ nhiệt đới truyền thống cho Việt Nam như Lào và Campuchia, thói quen và thị hiếu của thị trường trong việc sử dụng gỗ quý, giá cả hợp lý làm cho cung gỗ từ nguồn châu Phi tăng nhanh chóng và nhiều công ty tham gia thị trường cung gỗ dẫn đến cung vượt cầu. Hiện có gần 1 triệu mét khối gỗ châu Phi đang tồn kho tại Việt Nam.


Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Khó truy xuất nguồn gốc

 Năm 2018, nước ta nhập khẩu gần 1,4 triệu mét khối gỗ quy tròn từ châu Phi. Mức tăng lượng gỗ nhập quy tròn năm 2018 là 55.400m3, tương ứng 4,1% so với năm 2017. 4 tháng đầu năm 2019, nước ta đã nhập hơn nửa triệu mét khối gỗ quy tròn, trị giá 173 triệu USD từ châu lục này.

Mặc dù lượng gỗ từ châu Phi cho Việt Nam chiếm 1/4 tổng lượng cung gỗ nguyên liệu, tuy nhiên, nguồn gỗ này đang tiềm ẩn những rủi ro pháp lý. Việt Nam hiện hầu như không có thông tin về các quy định có liên quan đến quản lý, khai thác, chế biến và thương mại gỗ tại các quốc gia châu Phi. Các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu chỉ biết một số thông tin cơ bản tập trung vào các khâu có liên quan trực tiếp đến các hoạt động của DN (khai thác, xuất khẩu và vận chuyển…). Các quy định về các khía cạnh khác như lao động, an toàn trong sản xuất… thường nằm ngoài phạm vi quan tâm và hiểu biết của DN. Thiếu thông tin về nguồn cung đồng nghĩa với việc khó truy xuất gỗ nhập khẩu từ nguồn này.

Bên cạnh đó, chính sách quản lý tài nguyên của nhiều quốc gia ở khu vực này có không ít bất cập, không thống nhất và thậm chí xung đột lẫn nhau. Bên cạnh đó, các chính sách cũng thường xuyên thay đổi. Điều này đòi hỏi các DN cần thường xuyên cập nhật thông tin để bảo đảm các hoạt động của mình tuân thủ đầy đủ quy định của các quốc gia cung gỗ. Tuy nhiên, do hạn chế về tiếp cận thông tin, một phần có thể là do rào cản về ngôn ngữ, một phần là do các DN chưa quan tâm thỏa đáng, các DN có các hoạt động trực tiếp tại các quốc gia cung gỗ và các DN nhập khẩu có thể có các hoạt động không tuân thủ quy định. Điều đáng quan tâm, quản trị rừng tại hầu hết các quốc gia châu Phi cung gỗ cho Việt Nam ở mức rất thấp và điều này đồng nghĩa với gỗ từ nguồn này có rủi ro.

Hiệp định Đối tác Tự nguyện FLEGT VPA được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và EU nêu rõ các yêu cầu về tính hợp pháp về các sản phẩm gỗ của Việt Nam cho xuất khẩu giống hệt như các sản phẩm tiêu thụ nội địa. Theo nguyên tắc này, yêu cầu pháp lý về các sản phẩm gỗ tiêu thụ nội địa được làm từ gỗ nhập khẩu từ châu Phi sẽ tương đương với các sản phẩm gỗ được làm từ các loại gỗ rừng trồng của Việt Nam, hoặc từ nguồn gỗ nhập khẩu “sạch” được xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU. Như vậy, các rủi ro hiện tại trong nguồn cung gỗ nguyên liệu từ châu Phi sẽ là những rào cản rất lớn trong việc đáp ứng với các quy định về tính hợp pháp của gỗ trong VPA.

Theo lộ trình cam kết, trong 2 - 3 năm tới, hệ thống bảo đảm tính hợp pháp của gỗ (VNTLAS) sẽ được vận hành, khi đó các sản phẩm gỗ cung ra tất cả các thị trường là các sản phẩm hợp pháp. Để vận hành được hệ thống hiệu quả đòi hỏi các cơ quan quản lý cần có các hoạt động nhằm giảm rủi ro từ các chuỗi cung này. Trong đó, ưu tiên việc thu thập thông tin về các quy định pháp lý về quản lý lâm nghiệp, khai thác gỗ, chế biến, thương mại và các quy định khác có liên quan như lao động, môi trường của các quốc gia châu Phi hiện cung gỗ cho Việt Nam. Việc hợp tác, trao đổi thông tin có liên quan đến khai thác và thương mại gỗ giữa các cơ quan quản lý tại các quốc gia châu Phi cung gỗ cho Việt Nam và các cơ quan hải quan và lâm nghiệp của Việt Nam cũng là cơ sở trong việc làm sáng tỏ các khía cạnh pháp lý có liên quan đến gỗ nhập khẩu từ nguồn này. Bên cạnh đó, truyền thông nhằm hạn chế sử dụng gỗ tự nhiên là các loài gỗ quý, đặc biệt là gỗ có nguồn gốc từ các nguồn rủi ro cao có vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức và thị hiếu người tiêu dùng.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang