PHÁP LUẬT
Cập nhật 15:22 | 12/11/2019 (GMT+7)
.
Pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em

Cơ chế phối hợp chưa rõ ràng

08:39 | 02/07/2019
Cùng với rất nhiều văn bản pháp luật, từ hiến pháp cho đến các bộ luật, luật, văn bản hướng dẫn và có đến 18 bộ, ngành, tổ chức tham gia vào việc bảo vệ trẻ em, tuy nhiên, chưa bao giờ vấn đề xâm hại, bạo lực trẻ em lại “nóng” như hiện nay.

Tính chất ngày càng phức tạp

Theo thống kê của Cục Trẻ em, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong 2 năm 2017 - 2018, toàn quốc xảy ra 3.139 vụ bạo lực, xâm hại trẻ em với 3.221 trẻ em bị bạo lực, xâm hại, trong đó 2.643 vụ xâm hại tình dục với 2.690 trẻ em bị xâm hại tình dục; 3 tháng đầu năm 2019 đã xử lý 310 vụ bạo lực, xâm hại trẻ em với 325 trẻ em bị bạo lực, xâm hại. Số lượng các vụ việc xâm hại trẻ em nghiêm trọng được phát hiện, xử lý có giảm nhưng không nhiều, tính chất của các vụ xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Trẻ em bị xâm hại tình dục xảy ra ở nhiều độ tuổi, do nhiều loại đối tượng gây ra, trong đó phần lớn là người quen, họ hàng, hàng xóm, không chỉ người Việt Nam mà cả người nước ngoài và có cả trường hợp xâm hại tình dục trẻ em trên môi trường mạng. Nhiều vụ việc gia đình không cung cấp thông tin, thông báo, tố giác tới các cơ quan chức năng, vì sợ ảnh hưởng đến trẻ em và gia đình; thủ phạm có sự đe dọa hoặc dùng tiền mua chuộc, hòa giải với gia đình của nạn nhân.

Từ các bản Hiến pháp, các bộ luật, luật đến các văn bản dưới luật đã tạo thành một hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em phù hợp với các công ước quốc tế và truyền thống văn hóa của dân tộc. Trên tinh thần của Hiến pháp, quyền trẻ em, trách nhiệm của gia đình trong việc bảo đảm các quyền trẻ em nói chung và phòng, chống xâm hại nói riêng cũng đã được thể chế hóa trong nhiều bộ luật và luật như Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự… Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các quyền trẻ em rất đa dạng từ quyền được sống, được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển; quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng… đến quyền về tài sản; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được sống chung với cha, mẹ...

Nhiều nhưng thiếu hiệu quả

 Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác (Khoản 5, Điều 4, Luật Trẻ em năm 2016).

Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em vào năm 1990 mà không bảo lưu điều, khoản nào; cùng với đó là rất nhiều văn bản điều chỉnh cho việc thực hiện các quyền trẻ em... Nhưng trên thực tế, việc triển khai chính sách, pháp luật về quyền trẻ em vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại. Vấn đề về trẻ em chưa được nhận thức rõ và đủ, dẫn đến hạn chế trong triển khai thực hiện quyền tham gia của trẻ em. Điều đáng quan tâm, mặc dù xét trên hình thức, hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến việc bảo vệ trẻ em khá đầy đủ song việc hiệu lực hóa các văn bản pháp luật này còn nhiều vướng mắc. Đơn cử, các điều khoản quy định liên quan đến bạo hành và xâm hại tình dục trẻ em còn thiếu rõ ràng, thiếu các chỉ báo định lượng để cơ quan hành pháp và tư pháp lấy làm căn cứ tố tụng; việc xử lý vi phạm hành chính ít được thực hiện trên thực tế mà chủ yếu tập trung vào các vi phạm hình sự nên tính phòng ngừa, răn đe yếu; thiếu các quy trình và hướng dẫn cụ thể về hỗ trợ và bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng của bạo lực, xâm hại…

Trong khi đó, cơ chế phối hợp hoạt động và chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, Trung ương và giữa các sở, ngành địa phương trong công tác phòng, chống và giải quyết các vụ việc chưa rõ ràng; đặc biệt chưa có cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan y tế, giáo dục, tư pháp với cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em để kịp thời phát hiện và xử lý hoặc hỗ trợ, bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng trước, trong và sau quá trình tố tụng. Trên thực tế, nhiều vụ việc xét xử chậm, kéo dài, không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc điều tra, xét xử tội phạm xâm hại trẻ em cần bảo đảm thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; bảo vệ trẻ em bị xâm hại tình dục, tránh làm tổn thương thêm các em, giữ bí mật đời tư của nạn nhân tại phiên tòa. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định này gặp nhiều khó khăn, chẳng hạn trưng cầu giám định để có kết quả và quyết định giữ hay không giữ đối tượng, thế nhưng có những trường hợp nhanh thì cũng 7 - 9 ngày, thậm chí cả tháng cơ quan giám định mới cho kết quả.

Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trên, cho thấy việc cần làm và quan trọng nhất chính là các cơ quan liên quan cần rà soát tổng thể các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em; đồng thời xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan tố tụng trong quá trình xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em, xác định rõ trách nhiệm cùng chế tài đối với các cơ quan tố tụng trong quá trình phối hợp.

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang