PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:41 | 19/09/2019 (GMT+7)
.
Sổ tay

Tránh nguy cơ khiếu nại, khiếu kiện

08:20 | 14/07/2019
Đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ thì cam kết sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mở rộng hơn rất nhiều, trong đó có quy định các nước thành viên bảo hộ âm thanh, và khuyến khích các nước bảo hộ cả mùi.

Bên cạnh những cơ hội trong sản xuất, kinh doanh, việc gia nhập CPTPP cũng đặt ra nhiều thách thức từ các tiêu chuẩn bảo hộ cao đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Bởi, CPTPP đặt ra tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ so với pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, đối với nhãn hiệu, Điều 18.18 của CPTPP yêu cầu “không bên nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh. Thêm vào đó, mỗi bên phải nỗ lực hết sức để đăng ký nhãn hiệu mùi…”; và muộn nhất là vào ngày 30.12.2021 - tức là chưa đầy 3 năm nữa, Việt Nam phải thực hiện nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu dưới hình thức âm thanh. Hoặc, Điều 18.38 của CPTPP bảo vệ chủ sở hữu sáng chế hơn khi quy định thời gian ân hạn đối với tính mới “mỗi bên phải bỏ qua ít nhất là các thông tin đã được bộc lộ công khai nếu việc bộc lộ công khai này do người nộp đơn sáng chế hoặc người có được thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp từ người nộp đơn sáng chế và xảy ra trong vòng 12 tháng trước ngày nộp đơn trong lãnh thổ của bên đó”. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam. Để tuân thủ CPTPP, Việt Nam cũng phải làm rõ các nội dung sẽ được công bố khi công bố sáng chế, cũng như xây dựng hệ thống đăng ký sáng chế minh bạch và hiệu quả hơn. Thêm vào đó, với quy định ân hạn như trên, chủ sở hữu sẽ giảm bớt rủi ro bị mất tính mới do lộ thông tin về sáng chế trước khi nộp đơn đăng ký.

Không chỉ phải kịp thời bổ sung những quy định chưa có, mà các cơ quan chức năng phải sớm tiến hành sửa đổi nhiều quy định chưa tương thích. Đơn cử, Điều 18.47 của CPTPP quy định, nếu một bên yêu cầu như một điều kiện để cấp phép lưu hành đối với nông hóa phẩm mới, việc nộp dữ liệu thử nghiệm hoặc các dữ liệu bí mật khác liên quan đến tính an toàn và tính hiệu quả của sản phẩm thì bên đó không được cho phép người thứ ba, nếu không được sự đồng ý của người mà trước đó đã nộp dữ liệu, đưa ra thị trường sản phẩm trùng hoặc tương tự dựa trên các thông tin đó hoặc dựa trên việc cấp phép lưu hành cho người nộp dữ liệu thử nghiệm hoặc dữ liệu khác đó… Như vậy, có thể hiểu việc bảo hộ đối với dữ liệu chưa được bộc lộ liên quan đến nông hóa phẩm là tự động, không cần qua đăng ký.

Tuy nhiên, Điều 128, Khoản 1, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 chỉ quy định việc bảo mật dữ liệu thử nghiệm như một nghĩa vụ của cơ quan có thẩm quyền khi người nộp đơn đăng ký có yêu cầu, mà không coi những dữ liệu này là đối tượng được bảo hộ, Khoản 2, Điều 128 quy định nghĩa vụ bảo mật này chỉ kéo dài 5 năm.

Bên cạnh những nỗ lực của các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện thể chế thì đối với cộng đồng doanh nghiệp lại cần những yêu cầu thiết thân với hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở đây doanh nghiệp không chỉ mạnh về tiềm lực tài chính, hay quản trị tốt mà là việc chủ động tìm hiểu, áp dụng pháp luật, nhất là khi sở hữu trí tuệ là xương sống của một nền kinh tế tri thức trong tương lai là điều kiện sống còn của doanh nghiệp. Bởi, nếu không có sự chuẩn bị về thông tin pháp lý thì doanh nghiệp sẽ có nguy cơ đối diện với các vụ khiếu nại, khiếu kiện, thậm chí là bị áp dụng các chế tài do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang