PHÁP LUẬT
Cập nhật 10:29 | 20/08/2019 (GMT+7)
.
Hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Lúng túng về thẩm quyền và trong áp dụng

07:58 | 14/08/2019
Mặc dù, được đánh giá là có nhiều quy định tiến bộ, đặc biệt là những quy định liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài, song Luật Hôn nhân và gia đình còn những khoảng trống và chồng chéo với các văn bản pháp luật khác, khiến cho việc áp dụng các quy định không thống nhất, ảnh hưởng quyền và lợi ích các bên.

Những khoảng trống

Hiện những quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài chủ yếu dẫn chiếu đến các văn bản khác nhưng thường không đầy đủ hoặc mâu thuẫn trong cùng một điều luật. Cụ thể, Điều 123, Luật Hôn nhân và gia đình quy định, thẩm quyền đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch; thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; TAND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi… Như vậy, tùy từng nội dung, tính chất vụ việc mà Luật Hôn nhân và gia đình dẫn chiếu đến các quy định pháp luật chuyên ngành khác như hộ tịch hoặc tố tụng dân sự, tòa án nhân dân.

Tuy là dẫn chiếu áp dụng nhưng nhiều khi sự dẫn chiếu này lại bao gồm liệt kê các sự kiện pháp lý cụ thể, nhưng sự liệt kê này nếu đối chiếu với pháp luật chuyên ngành lại thiếu. Cụ thể, Điều 128, Luật Hôn nhân và gia đình quy định vụ việc liên quan đến hộ tịch dẫn chiếu đến pháp luật về hộ tịch nhưng lại liệt kê cả các trường hợp cụ thể và khi liệt kê còn thiếu trường hợp công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đã được quy định tại Điều 43, Luật Hộ tịch năm 2014. Hay về thẩm quyền của tòa án, Luật Hôn nhân và gia đình chỉ phân định thẩm quyền giữa tòa án và cơ quan hộ tịch mà không làm rõ thẩm quyền giữa tòa án Việt Nam và tòa án nước ngoài. Khoảng trống này khiến tòa án không biết căn cứ vào đâu để xác định thẩm quyền, cuối cùng lại căn cứ vào pháp luật dân sự, hoặc sự thỏa thuận của các bên.

Thiếu sự tương thích

 Theo Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình, hầu hết công dân Việt Nam có thời gian cư trú tại nước ngoài về Việt Nam thường trú không có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân thời gian cư trú ở nước ngoài (giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài hoặc giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp) nên UBND xã gặp rất nhiều khó khăn khi cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến nay có 10 hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự Việt Nam đã ký với các nước có quy định về pháp luật áp dụng, trong đó có nội dung quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định rõ luật áp dụng trong một số quan hệ có yếu tố nước ngoài như quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cha mẹ con, xác định quan hệ cha mẹ con… Trong những trường hợp này, nguyên tắc chung của Luật Hôn nhân và gia đình là áp dụng pháp luật Việt Nam; trong khi đó Bộ luật Dân sự 2015 thì quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật của nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó.

Ngay cả trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình đã xác định pháp luật áp dụng cho một quan hệ cụ thể thì vẫn còn những điểm cần hoàn thiện. Khoản 2, Điều 126, Luật Hôn nhân và gia đình quy định, việc kết hôn giữa người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn. Quy định này vô hình trung khiến cho hôn nhân của những người nước ngoài này có nguy cơ không được công nhận tại quốc gia mà họ là công dân (vì không thỏa mãn điều kiện kết hôn tại nước họ).

Các tiêu chí được sử dụng để xác định thẩm quyền và pháp luật áp dụng thông thường dựa trên yếu tố cư trú, tuy nhiên Luật Hôn nhân và gia đình đã sử dụng rất nhiều khái niệm để chỉ yếu tố này, khi thì sử dụng “định cư”, khi lại “cư trú” hoặc “thường trú”. Trong khi đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không còn là một nhóm chủ thể riêng biệt trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ luật Dân sự, nhưng yếu tố cư trú ở nước ngoài lại được xem xét trong mối quan hệ pháp lý hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Cũng vì căn cứ để xác định thẩm quyền xử lý vụ việc hôn nhân gia đình là “thường trú” nên không hiếm các quy định chưa rõ ràng, dẫn đến nhầm lẫn giữa xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền. Chẳng hạn, Điều 81 đến 83 đã xác định một người trực tiếp nuôi con, còn quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con vẫn thuộc về cha mẹ sau ly hôn; bên cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con. Tuy nhiên, việc chưa có định nghĩa cụ thể về quyền nuôi dưỡng, quyền thăm nom dẫn đến khó xác định người có quyền quyết định nơi cư trú của trẻ sau khi ly hôn, đặc biệt là xác định sự cần thiết phải có ý kiến của bên cha mẹ còn lại khi thay đổi nơi cư trú của trẻ.

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Quay trở lại đầu trang