PHÁP LUẬT
Cập nhật 16:11 | 17/09/2019 (GMT+7)
.
Thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp

Giám sát để bảo đảm thực chất

07:33 | 16/08/2019
Thỏa ước lao động tập thể nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho công nhân, thúc đẩy năng suất lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa. Hiệu quả là vậy, song dù tổ chức công đoàn các cấp đã có nhiều nỗ lực, nhưng việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể vẫn còn nhiều hạn chế. Thậm chí ở nhiều nơi, cả người lao động và người sử dụng đều không quan tâm đến việc ký kết thỏa ước lao động mà chỉ ký cho có, cho đủ số lượng.

Thương lượng chưa thực chất

Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 14.6 vừa qua. Đây được đánh giá là sự kiện quan trọng để Việt Nam củng cố và tăng cường cơ sở pháp lý để người lao động và người sử dụng lao động tiến hành thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể, tăng cường quan hệ lao động hài hòa, tạo ra môi trường lao động ổn định, có thể dự báo và quản lý được các xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động. Theo đánh giá của các chuyên gia, để bảo đảm thực thi đầy đủ, có hiệu quả Công ước trên thực tiễn sau khi gia nhập, Việt Nam cần nội luật hóa các quy định của Công ước. Trong đó, cần bổ sung thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện. Đồng thời, sửa đổi quy định về nội dung thương lượng tập thể, bảo đảm cách hiểu thống nhất.

Với nguyên tắc thương lượng, ký kết là tự nguyện, bình đẳng, công khai, không trái pháp luật, khuyến khích những quy định có lợi hơn cho người lao động, Thỏa ước lao động tập thể được xem là chìa khóa quan trọng để xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, mang tính bền vững ở doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo đánh giá của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện nay mới chỉ có hơn 60% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn ký kết thỏa ước lao động tập thể. Như vậy, số doanh nghiệp chưa ký kết các thỏa ước lao động tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua tổ chức công đoàn còn rất nhiều. Đáng nói, là chất lượng từng thỏa ước lao động tập thể vẫn chưa đáp ứng được trình tự, thủ tục thương lượng, ký kết và nguyện vọng thiết yếu của phần đông người lao động. Nội dung có lợi cho người lao động về tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, học tập nâng cao trình độ còn ít, chủ yếu vẫn tập trung vào các nội dung liên quan đến phúc lợi của người lao động như ma chay hiếu hỷ, thăm hỏi ốm đau... vẫn còn tình trạng sao chép nội dung pháp luật về lao động vào trong các thỏa ước lao động tập thể.

Tại Hà Nội, theo kế hoạch năm 2019, Liên đoàn Lao động thành phố phấn đấu có 75% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn ký được thỏa ước lao động tập thể, với ít nhất 45% đạt loại B trở lên. Đến nay, theo thống kê của Liên đoàn Lao động TP Hà Nội, tuy toàn thành phố đã nhận được khoảng 1.600 thỏa ước lao động tập thể nhưng tỷ lệ doanh nghiệp tổ chức thương lượng thực sự để mang lại lợi ích cho người lao động trước khi ký kết còn thấp. Đánh giá chất lượng của các thỏa ước lao động tập thể, đại diện Ban Chính sách - Pháp luật, Liên đoàn Lao động thành phố cho biết, nhiều thỏa ước lao động tập thể dài dòng nhưng thực chất không có điều khoản nào được thông qua bằng thương lượng và thực sự có lợi hơn cho người lao động. Một số thỏa ước lao động tập thể chỉ mang tính hình thức, sao chép lại những quy định của luật.

Không riêng gì Hà Nội, thực tế cho thấy, ở nhiều nơi, một số người sử dụng lao động, thậm chí cả một số cán bộ công đoàn và người lao động chưa nhận thức rõ sự cần thiết, tác dụng của thỏa ước lao động tập thể trong việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa tại doanh nghiệp cũng như trách nhiệm của mình đối với việc chấp hành các quy định của pháp luật về thỏa ước lao động tập thể nên chưa quan tâm đúng mức. Do đó, việc thương lượng chưa thực chất, chất lượng thỏa ước chưa cao.

Nâng cao chất lượng thỏa ước

Theo Phó Trưởng ban Quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Lê Đình Quảng, để thương lượng tập thể đi vào thực chất, các bên liên quan phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng nguyên tắc thiện chí, bình đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch. Trong đó, cần hiểu rõ mục đích của thương lượng tập thể là xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ; xác lập điều kiện lao động mới, làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể; giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Còn thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động, sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thương lượng tập thể tại các đơn vị, doanh nghiệp, hạn chế đến mức thấp nhất việc tổ chức thương lượng không thiện chí hoặc không tổ chức thương lượng...

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương và điều kiện lao động của người lao động được thực hiện dựa trên thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và tập thể người lao động. Do vậy, điều quan trọng là cần thúc đẩy thương lượng tập thể một cách thực chất và hiệu quả. Để làm được điều này thì việc ký kết các thỏa ước lao động tập thể cần được coi là việc bắt buộc và có sự giám sát của các ngành, tổ chức có liên quan. Phản ánh từ liên đoàn lao động các địa phương cũng cho rằng, để việc ký kết thỏa ước lao động tập thể đạt hiệu quả cần có các quy định và chế tài đủ mạnh hoặc công đoàn cơ sở tổ chức các hành động tập thể (không phải là đình công) nếu quá trình thương lượng khó khăn, doanh nghiệp cố tình dây dưa, né tránh, kéo dài thời gian thương lượng. Chính phủ cũng cần sớm ban hành hướng dẫn chi tiết thực hiện Khoản 1, Điều 73, Bộ luật Lao động năm 2012 về hình thức thỏa ước lao động tập thể khác nhằm giúp cho việc ký kết thỏa ước nhóm doanh nghiệp thuận lợi hơn.

Bảo Anh
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang