PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:41 | 19/09/2019 (GMT+7)
.
Thực thi pháp luật về xử lý phân biệt đối xử, bạo lực với phụ nữ, trẻ em

Hiệu quả chưa cao

08:28 | 20/08/2019
Hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật có các quy định liên quan đến chống phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, hiệu quả thực thi các văn bản này chưa được như mong muốn.

Đối tượng được bảo vệ cao hơn

Không quá khó để có thể liệt kê các quy định liên quan đến chống phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái. Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc theo luật định, qua đó, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và của vợ chồng đối với gia đình; tôn trọng quyền tự do cá nhân của vợ, chồng; bảo đảm an toàn pháp lý và sự ổn định trong các giao dịch, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba…

Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, có một số tòa án yêu cầu đương sự phải đưa ra bằng chứng bị chồng bạo lực ngay cả khi đã nộp giấy xác nhận đang phải tạm lánh tại Ngôi nhà Bình yên.

Mặc dù, Bộ luật Hình sự không có điều khoản về phân biệt đối xử đối với phụ nữ, trẻ em gái nhưng có một số quy định tập trung chủ yếu để bảo vệ nhóm đối tượng này. Đơn cử, Điều 165 quy định hành vi của một người vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị xử lý hình sự về tội xâm phạm quyền bình đẳng giới. Khung hình phạt cao nhất đối với người thực hiện hành vi phạm tội là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Người phạm tội này còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 - 5 năm. Hoặc Điều 52 quy định trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đồng thời, trong nhiều trường hợp hành vi phạm tội đối với phụ nữ hoặc trẻ em là tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự tại các điều luật về tội phạm.

Liên quan đến các chính sách, pháp luật hình sự về xử lý hành vi bạo lực trên cơ sở giới, Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp Đỗ Đức Hiển cho rằng, về cơ bản, các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nhằm bảo vệ con người nói chung, nhưng trong một số trường hợp, phụ nữ, trẻ em là đối tượng được bảo vệ cao hơn. Điều này thể hiện ở một số tội danh cụ thể của Bộ luật Hình sự quy định xâm hại phụ nữ hoặc xâm hại phụ nữ mà biết có thai, người dưới 18 tuổi hoặc dưới 16 tuổi là tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, việc xử lý hình sự đối với nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe đối với phụ nữ, trẻ em cũng nghiêm khắc hơn đối với nam giới. Mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với trường hợp giết phụ nữ có thai hoặc người dưới 16 tuổi, mức hình phạt có thể áp dụng trong trường hợp này là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình (Khoản 1, Điều 123); mức hình phạt cao nhất đối với người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bao gồm phụ nữ có thai hoặc người dưới 16 tuổi là hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Ít vụ việc được xử lý hình sự

Có thể thấy, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, bao gồm cả việc xây dựng hệ thống pháp luật tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc thực thi pháp luật về xử lý phân biệt đối xử, bạo lực với phụ nữ, trẻ em thời gian qua vẫn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Bùi Thị Hòa nêu thực tế, việc xử lý đơn thư của phụ nữ gửi đến Hội và các trường hợp phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình đến tạm lánh tại Ngôi nhà Bình yên của Hội cho thấy, phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong quá trình ly hôn, đặc biệt những vụ việc mà phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Theo thống kê của Tòa án Nhân dân Tối cao, có 86,23% án ly hôn có nguyên nhân do bạo lực gia đình, nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, tuy nhiên các quy định về thời gian giải quyết một vụ ly hôn có nguyên đơn là nạn nhân bạo lực gia đình theo thủ tục tố tụng dân sự hiện nay là quá dài.

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình cho thấy, bạo lực gia đình xảy ra phổ biến nhưng rất ít các vụ việc được xử lý hình sự. Ông Đỗ Đức Hiển gợi ý, để tạo cơ chế đấu tranh hiệu quả hơn trong việc xử lý các hành vi phạm tội bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, có thể cân nhắc để bảo đảm rằng tình tiết bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình được quy định đầy đủ trong các cấu thành tăng nặng tại các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người.

Bên cạnh vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật chuyên ngành thì pháp luật hình sự còn có những khoảng trống nhất định. Đơn cử, một số hành vi về bạo lực tình dục, thực tiễn các hành vi bạo lực tình dục đối với phụ nữ, trẻ em rất đa dạng, dưới nhiều hình thức mà pháp luật hình sự còn chưa đề cập cụ thể như tấn công tình dục, quấy rối tình dục, rủ rê, mồi chài (grooming); phạm vi xử lý hình sự cũng như hành vi cấu thành phạm tội trong một số trường hợp cũng chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của quốc tế như vấn đề về văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em... Do đó, trong thời gian tới, để bảo đảm xử lý nghiêm minh các hành vi phân biệt đối xử, bạo lực giới, tăng cường bảo vệ phụ nữ, trẻ em, cần rà soát pháp luật, nghiên cứu pháp luật quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước để hoàn thiện một bước pháp luật hình sự.

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang