PHÁP LUẬT
Cập nhật 08:48 | 23/10/2019 (GMT+7)
.
Thí điểm chi trả đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng

Có lộ trình cụ thể

08:10 | 09/09/2019
Góp phần bảo vệ môi trường rừng là lợi ích thấy được trong Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng. Tuy nhiên, doanh nghiệp và người dân sẽ phải trả thêm chi phí, liệu đây có phải là rào cản?

Các cơ chế định giá khí thải carbon đã được thực hiện từ những năm 1990 trên toàn thế giới. Năm 2018, 52 sáng kiến định giá khí thải carbon đã được triển khai hoặc dự kiến sẽ được thực hiện ở 46 quốc gia. Các sáng kiến này được dự kiến sẽ bù đắp được 11 tỷ tấn CO2, chiếm 19,5% lượng khí thải toàn cầu, với tổng giá trị là 79,62 tỷ USD.

Thí điểm ở 4 tỉnh

Năm 2015, Việt Nam đã tham gia ký Thỏa thuận Paris về Biến đổi khí hậu, theo đó Việt Nam cam kết đến năm 2030, bằng nguồn lực trong nước sẽ giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường. Theo kết quả kiểm kê khí nhà kính quốc gia, nhóm các nhà máy nhiệt điện và xi măng là nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất. Trong đó, trên 99% phát thải của các nhà máy này là khí CO2. Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam chưa có bất kỳ cơ chế tài chính nào đối với khí CO2.

Bên cạnh đó, Điểm đ, Khoản 2 và Khoản 5 Điều 63 Luật Lâm nghiệp giao Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn phải chi trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Khoản 5 Điều 57, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức thí điểm đến hết năm 2020, tổng kết trình Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả, quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Theo dự thảo, 4 địa phương được lựa chọn thí điểm là Quảng Ninh, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam với 20 đơn vị là các cơ sở sản xuất có nguồn khí phát thải lớn gồm: 9 tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiệt điện than (phát thải từ 1,5 - 7,3 triệu tấn CO2/cơ sở/năm); và 11 tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh xi măng (phát thải từ 0,7 - 3,1 triệu tấn CO2/cơ sở/năm). Thời gian thực hiện thí điểm từ ngày 1.1.2020 - 31.12.2020. Liên quan đến mức chi trả, dự thảo đề xuất: Đối với tổ chức sản xuất, kinh doanh nhiệt điện than, mức thu 4 đồng/kWh (tương đương 2 USD/tấn CO2); đối với tổ chức sản xuất, kinh doanh xi măng mức thu 2.100 đồng/tấn clanhke (tương đương 1,35 USD/tấn CO2). Với mức chi trả này, dự kiến 4 tỉnh thí điểm sẽ thu được khoảng 156 tỷ đồng/năm; số tiền này sẽ được chi trả đến các hộ gia đình trồng và bảo vệ rừng.

Đánh giá kỹ lưỡng

Việc ban hành Quyết định này được kỳ vọng là tạo bước đột phá về ý thức bảo vệ môi trường, khi các tác nhân gây phát thải chia sẻ trách nhiệm kinh tế/tài chính cùng xã hội để bảo vệ môi trường; xây dựng mối quan hệ bền vững giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; góp phần giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động cho chủ rừng đang tạm dừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên.

Tuy nhiên, Báo cáo đánh giá tác động dự thảo cho thấy, việc thực hiện quy định này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp và người dân (dù ở mức thấp, cũng là sự tác động). Chẳng hạn, đối với các nhà máy nhiệt điện than, mức tiền phải trả cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đề xuất là 4 đồng/kWh thì dự kiến sẽ tăng 0,29% trong tổng giá thành sản xuất 1 kWh điện. Mức tăng này vẫn nằm trong ngưỡng tăng thực tế của giá thành sản xuất điện tại các nhà máy được khảo sát từ 0,2 - 1,8%. Hay, mức tiền chi trả cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon đối với các nhà máy sản xuất xi măng là 2.100 đồng/tấn clanhke, chiếm khoảng 0,29% trong tổng giá thành sản xuất 1 tấn xi măng. Hoặc, với mức tiêu dùng điện 1.700 kWh/người/năm (theo thống kê của Tập đoàn Điện lực Việt Nam), tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng dự kiến là 4 đồng/kWh điện sẽ làm tăng chi phí tiêu dùng điện của 1 cá nhân là 6.800 đồng/năm (hoặc 27.200 đồng/năm của 1 hộ gia đình có 4 nhân khẩu).

Nếu nhìn vấn đề này ở góc độ chi phí của doanh nghiệp thì thấy dù là mức thấp (như khẳng định của cơ quan được giao chủ trì chuẩn bị văn bản) thì nó cũng sẽ tác động dây chuyền đến doanh nghiệp và dù Ban soạn thảo có giải thích “tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng các nhà máy nhiệt điện than và các nhà máy xi măng được hạch toán vào giá thành, khi đó người tiêu dùng cuối cùng mới là người phải trả tiền dịch vụ này” thì đó cũng là khoản phí cần phải trả, dù người chi trả là doanh nghiệp, hay người dân. Từ đó cho thấy, cần phải có lộ trình cụ thể, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang phải chịu cạnh tranh ngày càng gay gắt thì cần khảo sát, đánh giá tác động kỹ lưỡng và lộ trình thực hiện cụ thể.

Phạm Hải
Xem tin theo ngày:
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
07:59 19/08/2019
Tạo môi trường thật sự dân chủ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì mới có những văn bản luật chất lượng, làm động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đó là vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quay trở lại đầu trang