PHÁP LUẬT
Cập nhật 23:14 | 17/11/2019 (GMT+7)
.
Lao động trong chuỗi cung ứng các ngành may, giày và điện tử

Hạn chế trong tiếp cận pháp luật

07:58 | 18/10/2019
Làm thêm nhiều, phân biệt trên cơ sở giới còn phổ biến, đặc biệt là còn hạn chế trong tiếp cận pháp luật về hòa giải và giải quyết tranh chấp lao động là những vấn đề đáng chú ý trong Báo cáo về vấn đề lao động trong chuỗi cung ứng các ngành may, giày và điện tử dựa trên các Quy tắc hướng dẫn về doanh nghiệp và nhân quyền của Liên Hợp Quốc.

Những phát hiện đáng lưu ý 

Trong 3 ngành (may, giày, điện tử) vẫn tồn tại nhiều vi phạm pháp luật lao động. Trong đó phổ biến nhất là phân biệt đối xử với lao động nữ; ép buộc làm thêm giờ quá mức quy định, trả lương thấp hơn mức đủ sống và tìm cách khấu trừ lương của người lao động, cũng như can thiệp vào hoạt động công đoàn. Cụ thể, tình trạng phân biệt đối xử với lao động nữ mang thai được phát hiện khá thường xuyên qua các cuộc kiểm tra của nhãn hàng và các điều tra độc lập. Nhiều doanh nghiệp (DN) còn yêu cầu lao động nữ cam kết không sinh con trong thời gian nhất định; khảo sát 238 lao động điện tử tại Hải Phòng và Đồng Nai cho thấy 28,6% công nhân cho biết nhà máy của họ có quy định cấm mang thai trong 1 - 2 năm làm việc đầu tiên. Cùng với sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới thì người lao động đang phải làm thêm giờ quá mức luật quy định. Năm 2018, số giờ làm thêm trung bình trong ngành giày là 40,7 giờ/tháng; cao hơn mức giới hạn của pháp luật là 30 giờ/tháng…

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, Việt Nam có hệ thống các cơ chế tư pháp và phi tư pháp để xử lý các tranh chấp lao động tương đối toàn diện và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ người lao động thắng kiện tại tòa án lao động lên tới 90%; cơ chế hòa giải thông qua các hòa giải viên lao động cũng đạt tỷ lệ thành công trên 70% với các tranh chấp lao động cá nhân và trên 90% với các cuộc đình công tự phát. Tuy nhiên, số lượng các khiếu nại của người lao động được giải quyết thông qua các cơ chế chính thức nói trên còn chưa nhiều so với số lượng và nội dung khiếu nại thực tế của người lao động. Chính vì thế, đường dây nóng là kênh khiếu nại phổ biến nhất cho công nhân trong các nhà máy cung ứng. Các nhãn hàng thường yêu cầu các nhà cung ứng niêm yết số điện thoại đường dây nóng trong tất cả các nhà máy để người lao động tham khảo trong trường hợp khiếu nại. Đường dây nóng có thể được quản lý bởi các văn phòng bền vững của nhãn hàng tại địa phương hoặc do đại diện của tổ chức phi chính phủ (bên thứ 3) mà nhãn hàng là thành viên. Tuy nhiên, chính sách giải quyết các ý kiến thông qua các cơ chế khiếu nại của các nhãn hàng đều khác nhau. Hầu hết các nhãn hàng coi đây là một quy trình nội bộ và được bảo mật giữa các nhãn hàng và nhà cung ứng.

Chưa tổ chức tốt đối thoại định kỳ

Báo cáo viên nghiên cứu Nguyễn Quỳnh Chi chia sẻ thêm, trong khi các nhãn hàng và nhà sản xuất hàng may mặc và giày dép sẵn sàng tiếp thu hơn với những khiếu nại của công nhân, thì các công ty điện tử vẫn miễn cưỡng thừa nhận rằng công nhân của họ có khiếu nại về vấn đề lao động. Trong các cuộc phỏng vấn với các nhãn hàng điện tử, một nhãn hàng đã từ chối tiết lộ thông tin về các khiếu nại của người lao động, vốn bị xem là “bí mật kinh doanh”. Một thương hiệu khác thì cho biết, hầu hết các công nhân gọi tới các đường dây khiếu nại để xin tư vấn về các vấn đề cá nhân, như cách giải quyết các mối quan hệ gia đình. Tuy nhiên, như các cuộc điều tra trước đây chứng minh rằng, người lao động trong cả ba ngành công nghiệp có mối quan tâm rất cấp bách về điều kiện làm việc, đặc biệt là về tiền lương.

Đồng tình với thực tế trên, Phó Chánh Thanh tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Hữu Long khẳng định, DN chưa tổ chức tốt đối thoại định kỳ hoặc không tổ chức được. Ngay cả việc giải quyết khiếu nại, bản án của tòa án cũng có lúc, có nơi thực hành chưa nghiêm túc, chưa đủ chế tài bảo đảm thi hành. Không chỉ chưa minh bạch trong những vấn đề quan tâm của người lao động mà ngay cả quá trình giải quyết mâu thuẫn cũng hết sức gian nan. Luật sư Vũ Ngọc Hà, Trung tâm Tư vấn Pháp luật Công đoàn Đồng Nai cho rằng, quá trình tố tụng kéo dài mặc dù luật đã quy định thời gian tố tụng nhưng trên thực tế nếu xét xử một cấp thì mỗi vụ việc thường kéo dài 6 tháng; 2 cấp thì mất 1 năm. Tuy nhiên, cũng không hiếm DN lựa chọn con đường giải quyết bằng hòa giải, thương lượng, bởi việc ra tòa án sẽ kéo theo việc mất uy tín của DN. Từ thực tế này, có thể thấy dù được đánh giá là có hệ thống các cơ chế tư pháp và phi tư pháp để xử lý các tranh chấp lao động tương đối toàn diện nhưng việc bảo vệ quyền lợi của người lao động không đơn giản. 

Đình Khoa
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang