PHÁP LUẬT
Cập nhật 17:41 | 27/01/2020 (GMT+7)
.
Sổ tay

“Khoảng trống” trong ủy thác tư pháp

08:31 | 15/12/2019
Tính từ thời điểm Nghị định số 62/2015 có hiệu lực pháp luật (ngày 1.9.2015) đã có 109 yêu cầu thông báo thi hành án của Việt Nam gửi đi nước ngoài, cả những nước có quan hệ điều ước quốc tế với Việt Nam và những nước chưa có quan hệ điều ước quốc tế; đã nhận được 49 kết quả trả lời (đạt tỷ lệ gần 45%). Như vậy số lượng thực hiện ủy thác tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự không nhiều.

Một trong những nguyên nhân được đề cập tới là phạm vi tương trợ tư pháp về thi hành án dân sự còn hẹp, chỉ giới hạn ở việc tống đạt văn bản, giấy tờ về thi hành án; đồng thời pháp luật về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực này chưa hoàn thiện. Cụ thể, dù vấn đề tương trợ tư pháp đã được đề cập tới trong Luật Thi hành án dân sự, nhưng luật chuyên ngành là Luật Tương trợ tư pháp 2008 lại chưa có quy định về ủy thác tư pháp trong thi hành án dân sự. Hiện, Điều 50 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP là điều khoản duy nhất điều chỉnh vấn đề thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài thông qua các quy định về tương trợ tư pháp trong thi hành án dân sự.

Theo quy định tại Điều 10, Luật Tương trợ tư pháp, phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự chỉ gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ; các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự. Trong khi đó, đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, việc tương trợ tư pháp của Việt Nam ra nước ngoài rất cần thiết để thực hiện các việc như: Tống đạt văn bản, giấy tờ về thi hành án; xác minh điều kiện thi hành án (địa chỉ, nơi làm việc, thu nhập... ) của người phải thi hành án; tạm giữ, phong tỏa, kê biên tài sản để thi hành án; công nhận và cho thi hành tại nước ngoài bản án, quyết định của tòa án, phán quyết của trọng tài thương mại, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh của Việt Nam đối với công dân, tổ chức nước ngoài… Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan thi hành án dân sự chỉ có quyền và phía nước ngoài cũng chỉ chấp nhận việc ủy thác tư pháp liên quan đến việc tống đạt văn bản, giấy tờ về thi hành án.

Hơn nữa, dù có thông tin về tài sản của người thi hành án ở nước ngoài thì cũng không thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thi hành án cho Việt Nam vì để được thi hành bản án của tòa án Việt Nam phải được công nhận tại nước đó. Đối với các vụ việc thi hành án dân sự theo yêu cầu thì người được thi hành phải tự làm thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Việt Nam tại nước ngoài và sau đó tự tiến hành các thủ tục thi hành tại phía nước ngoài.

Tương tự như vậy đối với các loại vụ việc thi hành án do thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định chủ động nếu là phần thi hành án phí dân sự cho Nhà nước trong các vụ án dân sự thì cơ quan thi hành án cũng phải tiến hành thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án Việt Nam tại nước ngoài. Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự chưa quy định, trình tự, thủ tục thực hiện; truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính do phạm tội mà có thì thực hiện theo kênh tương trợ tư pháp hình sự; thi hành hình phạt tiền, án phí hình sự thì phải thực hiện công nhận và cho thi hành bản án hình sự của Việt Nam ở nước ngoài. 

Nguyễn Minh
Xem tin theo ngày:
Quay trở lại đầu trang