Quốc hội tiến hành giám sát tối cao về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em 

Xem với cỡ chữ
Tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ Chín, Quốc hội Khóa XIV, đúng 8h sáng nay, 27.5, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội đã tiến hành giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em theo hình thức trực tuyến. Phiên họp được phát thanh, truyền hình trực tiếp đến cử tri và Nhân dân cả nước.

Nhận diện đúng hành vi và trang bị cho trẻ kỹ năng phòng, chống bị xâm hại 

Tại phiên họp sáng nay, một số ĐBQH cũng cho rằng nguyên nhân chính của tình trạng xâm hại trẻ em diễn biến phức tạp là do mặt trái của kinh tế thị trường, sự sụt giảm nghiêm trọng của đạo đức xã hội. Tuy nhiên, tranh luận lại với các ý kiến này, ĐBQH Nguyễn Hồng Vân (Phú Yên) cho rằng, nếu đổ thừa cho hai nguyên nhân này là chưa đầy đủ. Báo cáo kết quả giám sát đã chỉ ra 9 nhóm nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất đã được đưa lên hàng đầu là cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương ở nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức và chưa quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc phòng ngừa xâm hại trẻ em, thậm chí một số nơi còn coi nhẹ. Báo cáo kết quả giám sát nêu rõ 49/63 tỉnh, thành phố có HĐND cấp tỉnh chưa ban hành nghị quyết chuyên đề chỉ đạo thực hiện nội dung này, chủ yếu lồng ghép vào nghị quyết chung về kinh tế - xã hội hoặc chậm ban hành nghị quyết này. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. “Một khi cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên môn chưa nhận thức đầy đủ thì làm sao nhân dân có thể nhận thức đầy đủ để phòng, chống xâm hại trẻ em?”, đại biểu Vân đặt câu hỏi.

Đề cập đến các nhóm giải pháp được Đoàn giám sát của Quốc hội đưa ra trong Báo cáo kết quả giám sát chi tiết, đại biểu Vân nhận định đã rất toàn diện, kiến nghị từ Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đến các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý, nguyên nhân chính kể trên chưa được xử lý triệt để, chưa thấy có cấp ủy, chính quyền, cơ quan, cá nhân nào bị xử lý khi xảy ra tình trạng trẻ em bị xâm hại tại địa phương mình quản lý. “Báo cáo đã đưa ra những sai phạm thì phải xử lý để nêu gương và răn đe, khắc phục tình trạng trên trong thời gian tới”, đại biểu Vân nhấn mạnh.

Cũng liên quan đến các giải pháp phòng, chống xâm hại trẻ em, ĐBQH K’sor H'Bơ Khăp (Gia Lai) cho rằng, cần nhấn mạnh khía cạnh nhận diện các hành vi xâm hại trẻ em để làm cơ sở cho việc bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp luật có liên quan trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần tập trung vào việc giáo dục, nâng cao ý thức và kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em không chỉ với chính các em mà còn phải với người lớn. Đại biểu nêu thực tế vừa qua các hành vi xâm hại trẻ em như nhìn lén, quay lén, nói chuyện dâm ô… diễn ra ở nơi cộng đồng, trường học khá nhiều nhưng gần như không bị xử lý vì không có quy định cụ thể hoặc có nhưng rất khó xử lý, xử lý rất nhẹ.

Nhấn mạnh quan điểm phòng ngừa là chính, đại biểu K’sor H'Bơ Khăp cũng đề nghị, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chuyên đề giám sát tối cao này phải xác định nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em là giáo dục, nhận diện đúng và trang bị cho trẻ kỹ năng phòng chống bị xâm hại. Bởi lẽ, hiện nay, việc giáo dục kỹ năng, phổ biến pháp luật trong các trường học, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số còn mang tính hình thức, trên giấy tờ. Bản thân trẻ không được tiếp thu kiến thức về giới tính, về pháp luật, không biết bản thân mình được pháp luật bảo vệ như thế nào. Kỹ năng được huấn luyện chỉ là không được đi với người lạ, không được để người lạ động vào người… nhưng cuối cùng đa số những vụ xâm hại là từ người thân, người quen. Bản thân người lớn cũng đang nhận thức không đúng và chưa đầy đủ về các hành vi xâm hại, cứ nghĩ hành vi hiếp dâm được cấu thành mới là tổn thương, đáng bị lên án.

Phải điều tra thực sự khoa học, thống kê đầy đủ số liệu trẻ em bị xâm hại

Hình thức xâm hại trẻ em rất rộng, nhưng theo ĐBQH Nguyễn Văn Hiển (Lâm Đồng), chúng ta vẫn chưa xác định thật rõ và nhất quán về các hình thức xâm hại, hành vi xâm hại trẻ em. Điều này dẫn đến việc thống kê, đánh giá tính chất, mức độ xâm hại trẻ me trên một số tiêu chí, ở một số địa phương chưa thật đầy đủ, dễ gây hiểu lầm rằng số vụ việc chỉ có như vậy.


Đại biểu Nguyễn Văn Hiển (Lâm Đồng) phát biểu. 

Theo báo cáo của Chính phủ, số trẻ em có nguy cơ bị xâm hại đã thống kê được là rất lớn: số trẻ em khuyết tật là 671.659 em; trẻ em tự kỷ là 240.000 em; trẻ em không sống trong môi trường gia đình là 33.000 em; trẻ em có cha mẹ ly hôn 69.000 em… Tổng số trẻ em có nguy cơ bị xâm hại là hơn 1 triệu em, tương đương 4,09% tổng số trẻ em toàn quốc. Nếu tính tổng số trẻ em bị xâm hại và có nguy cơ bị xâm hại thì con số này lên tới 8% tổng số trẻ em toàn quốc. “Đây là con số rất đáng kể và đáng báo động so với con số 0,035% mà báo cáo của Chính phủ chỉ ra. Xin nhắc lại, đây chỉ là số vụ việc đã được thống kê”. Nhấn mạnh điều này, đại biểu Hiển chỉ rõ, về lý thuyết, tỷ lệ xâm hại trẻ em sẽ rất cao so với những vụ việc xâm hại sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm con người nói chung. Bởi lẽ, nạn nhân trong những vụ việc này là trẻ em, đối tượng hầu như không có khả năng tự vệ, nhận biết và tố giác hành vi xâm hại; không gian, địa điểm xâm hại thường khó phát hiện.

Đại biểu cũng cho rằng, do không có sự rõ ràng trong số liệu thống kê nên việc đánh giá một số mục ở phần sau của báo cáo có sự nhầm lẫn, mặc nhiên coi một số vụ việc xâm hại đã bị xử lý hình sự, hành chính là xâm hại trẻ em như mục đánh giá đối tượng xâm hại trẻ em, địa bàn, địa điểm xảy ra hành vi xâm hại; phương thức, thủ đoạn xâm hại… Ví dụ, đánh giá về đối tượng xâm hại trẻ em trong báo cáo do dựa vào số liệu thống kê hành vi xâm hại đã bị xử lý hình sự, hành chính nên dẫn đến nhận định đối tượng xâm hại chủ yếu là nam giới (chiếm 95%), hay đánh giá người ruột thịt, thân thiết, quen biết ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm 97%. Trên thực tế, nếu xác định trẻ em bị xâm hại bằng các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi… như báo cáo đã nêu thì sẽ cho ra kết quả và nhận định khác xa so với báo cáo nêu. Do thiếu hụt các dữ liệu thống kê nên việc dự báo tình hình xâm hại trẻ em trong thời gian tới còn mờ nhạt, thiếu những đánh giá, nhận định có tính chất đột phá.

Về chính sách, pháp luật và việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em, trong thời kỳ báo cáo từ 1.1.2015 - 20.6.2019, chúng ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Cụ thể: 83 văn bản Trung ương gồm 18 luật, 33 văn bản là nghị định, quyết định, chỉ thị của Chính phủ; 35 thông tư của các bộ và rất nhiều văn bản khác. Mỗi văn bản trên đều có quy định cụ thể về phòng, chống xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, theo đánh giá của đại biểu Hiển, ở tầm quốc gia, chúng ta chưa có chính sách thống nhất rõ ràng được thể hiện đầy đủ trong một chương trình, kế hoạch hành động với những mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình thực hiện cụ thể trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em. Chúng ta cũng thiếu một thiết kế tổng thể về hệ thống phòng ngừa, xử lý trong vấn đề này. Mãi đến ngày 23.12.2019, Thủ tướng mới ban hành Quyết định 1863 về phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2020 - 2025. Chính vì vậy, trong thời gian dài, việc tổ chức thực hiện của chúng ta thực sự thiếu thống nhất; thiếu sự điều phối đủ mạnh. Ở đây báo cáo không chỉ rõ nhiệm vụ điều phối này giao cho cơ quan nào? Cục Trẻ em thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hay Ban Chỉ đạo quốc gia về trẻ em? Chúng ta thiếu sự phân công trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể tham gia trong công tác này do đó việc bố trí nguồn lực, kinh phí, nhân sự, đội ngũ cán bộ tham gia vào công tác này còn nhiều bất cập như báo cáo đã nêu, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác phòng, chống xâm hại trẻ em.

Từ phân tích nêu trên, đại biểu Hiển cho rằng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cần phối hợp với cơ quan chức năng của Chính phủ trong điều tra thực sự khoa học, bài bản nhằm thống kê đầy đủ số liệu trẻ em bị xâm hại trong thời gian qua, bao gồm trẻ em bị xâm hại bằng các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, bỏ rơi, bỏ mặc và các hình thức khác được quy định theo Luật Trẻ em. Đây là cơ sở quan trọng để dự báo tình hình xâm hại trẻ em trong tương lai cũng như phục vụ cho việc xây dựng chính sách cho giai đoạn tới.

Cần xây dựng chiến lược dài hạn bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

Các ĐBQH Hoàng Thị Hoa (Bắc Giang), Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn)... dành sự quan tâm đặc biệt đến tình trạng xâm hại trẻ em trên không gian mạng.


Đại biểu Hoàng Thị Hoa (Bắc Giang) phát biểu. 

Đại biểu Hoa chỉ rõ, mặc dù sự xuất hiện internet ở Việt Nam chậm hơn so với khởi đầu của thế giới, và chậm hơn so với một số người trong khu vực, nhưng chúng ta đã nhanh chóng trở thành quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng internet cao nhất trong khu vực với 68 triệu người dùng mạng xã hội, trong đó số tài khoản facebook ở 63 triệu. Hơn 1/3 số người dùng internet ở VN trong độ tuổi từ 15 đến 24. Không thể phủ nhận vai trò của công nghệ đối với đời sống của trẻ em trong việc cung cấp kiến thức, phương thức làm việc, giải trí, tăng cường tương tác xã hội. Tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy, không ít tác dụng tiêu cực thậm chí có nguy cơ rủi ro cho trẻ trên môi trường mạng, dù chưa có số liệu thống kê cụ thể, đầy đủ về số lượng trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng nhưng tại cuộc hội thảo phòng, chống xâm hại trẻ em trên môi trường mạng nằm trong khuôn khổ cuộc giám sát của Quốc hội, Cục trẻ em, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã thừa nhận, đã có rất nhiều trẻ em bị xâm hại và trẻ em đứng trước nhiều rủi ro, nguy cơ xâm hại trong môi trường mạng. Thông qua môi trường mạng, trẻ em có nguy cơ bị xâm hại như hình ảnh trẻ em bị xâm hại, bóc lột được ghi, được quay, được chụp và phát tán, tiếp xúc với nội dung bạo lực, nội dung nhạy cảm, tiếp xúc với nội dung xúi giục, tự tử và hành vi tiêu cực khác, gặp những hành vi tiếp xúc và ứng xử không phù hợp như bắt nạt trực tuyến, nhắn tin liên quan đến tình dục, thông tin cá nhân bị thu thập… Những nguy cơ rủi ro với trẻ em trên môi trường mạng được cơ quan quản lý chức năng nêu ra trên thực tế chính là 6 hành vi xâm hại trẻ em được quy định tại Luật Trẻ em năm 2016.

Theo Bộ Công an, trong 3 năm vừa qua lực lượng công an đã phát hiện và xử lý 156 cuộc xâm hại trẻ em trên môi trường mạng, tuy nhiên số liệu này chưa phản ánh được bức tranh mà trẻ em bị lạm dụng trên môi trường mạng. Luật trẻ em 2016, Luật tiếp cận thông tin 2016, Luật An toàn thông tin mạng 2018 đã có những quy định liên quan tới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Chính phủ các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật. Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của CNTT, những diễn biến phức tạp của tội phạm công nghệ cao khiến trẻ em ngày càng đứng trước nhiều nguy cơ xâm hại.

Có cùng quan điểm này, đại biểu Thủy cho rằng, sự phát triển của internet, mạng xã hội đã tạo thành những thay đổi lớn trong cách trẻ em kết bạn, giao tiếp với xã hội, các em đã có nhiều mối quan hệ trên mạng. Không thể phủ nhận vai trò của internet, mạng xã hội đã mang đến nhiều cơ hội học tập, mở mang kiến thức, giải trí nhất cho trẻ em song những tác động xấu, mặt trái của môi trường mạng đã đặt ra nhiều nguy cơ, rủi ro đối với trẻ em.

Về tình hình trẻ em sử dụng internet, đại biểu Thủy dẫn số liệu của các cơ quan tổ chức hữu quan tại Hội thảo của Đoàn giám sát đầu năm nay cho thấy, mỗi ngày có hơn 720 nghìn hình ảnh xâm hại trẻ em được đưa lên mạng với hầu hết là clip bạo lực, xâm hại tình dục. Kết quả khảo sát cho thấy 1/3 số trẻ cho biết từng là nạn nhân bị bắt nạt trên mạng và số em gái cao gấp 3 lần số trẻ em nam. Trong đó, về thủ đoạn phạm tội, qua nghiên cứu các vụ án, đại biểu Thủy chỉ rõ, với sự phát triển của công nghệ, chưa bao giờ việc tiếp cận với trẻ em và xâm hại trẻ em lại dễ dàng như hiện nay. Thủ đoạn các đối tượng thường dùng là lập các phòng chát ảo, thiết lập tham gia các trang web, các diễn đàn trên mạng để tìm kiếm trẻ em và từ đó gửi tin nhắn làm quen. Chúng luôn lấy hình ảnh để tạo ấn tượng ban đầu khi làm quen là người có học thức, có cuộc sống khá giả, hiểu tâm lý sở thích của trẻ em và luôn sẵn sàng chia sẻ. Và sau một thời gian trò chuyện thì chúng chuyển chủ đề từ học hành, sở thích sang giới và tình dục, lôi kéo trẻ cùng xem phim khiêu dâm trên mạng. Bước tiếp theo nữa là dụ dỗ trẻ phơi bày các bộ phận trên cơ thể, biểu diễn tình dục trước máy quay giống như trong phim và khi có được hình ảnh, những đoạn phim của trẻ thì các đối tượng ép trẻ quan hệ tình dục nếu không sẽ phát tán những hình ảnh lên mạng. Nguy hiểm hơn, có những đối tượng còn giả làm người cùng giới, lấy hình ảnh là bé gái 14-15 tuổi dùng nhắn tin kết bạn làm quen trò chuyện về việc phát triển của các bộ phận trên cơ thể sau đó là gạ gẫm chụp cho nhau xem. Vì nghĩ là cùng giới nên có những em mất cảnh giác chụp hình ảnh gửi cho chúng. Và có những vụ án có những đối tượng sử dụng hình ảnh, đoạn phim này để khai thác thương mại. Ví dụ như vụ án Bảo Anh và các đồng phạm tại TP Hồ Chí Minh đã dụ dỗ các trẻ em nam tại Mỹ cởi bỏ quần áo truyền trực tiếp hình ảnh khiêu dâm về cho chúng. Và cho đến ngày bị bắt các đối tượng này đã tung lên mạng và các người truy cập đều phải trả phí.

Các đại biểu nhấn mạnh, xâm hại trẻ em xảy ra trên môi trường mạng để lại hậu quả lớn và rất nghiêm trọng so với các vụ xâm hại ở ngoài xã hội. Nếu các vụ xâm hại ở ngoài xã hội chỉ vài người chứng kiến thì xâm hại đưa lên mạng thì hình ảnh xâm hại có thể theo các em suốt cả đời. Đại biểu Thủy nêu ví dụ vụ án xảy ra ở Đà Nẵng, với thủ đoạn đăng tin cần tuyển lao động có mức lương cao trên mạng xã hội, 5 đối tượng đã tiếp cận bé gái 15 tuổi và đưa đến căn hộ bọn chúng thuê ở quận Sơn Trà. Sau đó cho tiền dụ dỗ em biểu diễn tình dục và quay phim phát ngay trên mang xã hội có thu phí và thu hút nhiều triệu người xem clip này.

Trao đổi về những khó khăn trong phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, đại biểu Hoa cho rằng, còn có một số vấn đề cần lưu ý như: các quy định pháp lý liên quan tới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng còn yếu và chưa đồng bộ. Vai trò hiệu quả chưa cao trong việc xử lý can thiệp của các cơ quan quản lý về truyền thông, cơ quan tổ chức bảo vệ trẻ em và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng của gia đình, nhà trường và xã hội. Các cơ quan truyền thông với mục đích ban đầu là phản ánh sự việc để kêu gọi sự quan tâm, sự lên tiếng có trách nhiệm của cơ quan bảo vệ trẻ em, cơ quan thực thi pháp luật. Tuy nhiên tôi xin tập trung thu hút sự chú ý của dư luận mà quên đi trách nhiệm bảo vệ trẻ em trong cách đưa tin, hình ảnh, vô hình chung làm tổn thương thêm các em. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng chưa được hướng dẫn phổ biến tập huấn đầy đủ về trách nhiệm cách xử lý kịp thời bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng nên khi có sự việc xảy ra chưa chủ động ngăn chặn, cảnh báo mà tiếp tục để phát tán trên môi trường mạng hay dịch vụ của mình.


Đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn) phát biểu. 

Ỏ góc độ khác, đại biểu Thủy nhận định, trẻ em rất thông minh, yêu thích công nghệ và khám phá những điều mới mẻ về công nghệ, song lại quá non nớt trước thủ đoạn của những kẻ xấu trên mạng. Nhiều người lớn trao cho trẻ chiếc điện thoại thông minh nhưng không hướng dẫn cho trẻ cách thức sử dụng mạng an toàn thì nguy cơ đến với trẻ là rất lớn. Đối với môi trường mạng thì kể cả ngồi trong nhà với cha mẹ, người thân, trẻ em vẫn có nguy cơ bị xâm hại. Và vì quá lo lắng trước tác động xấu của môi trường mạng, nhiều phụ huynh đã cấm cho con sử dụng hoặc áp dụng theo dõi chặt chẽ các hoạt động của con trên mạng thay vì dành thời gian thỏa đáng để hướng dẫn con sử dụng mạng an toàn. Chính vì cách làm này cũng khiến nhiều trẻ đóng lại cánh cửa sẻ chia với cha mẹ. Khi có vấn đề xảy ra trên mạng trẻ cảm thấy bị theo dõi, thậm chí sẽ tìm đến quán nét để sử dụng mạng. Theo thống kê của tổ chức quốc tế, 84% phụ huynh trên thế giới lo lắng vấn đề của con trên môi trường mạng nhưng cũng chỉ dành 46 phút để trò chuyện với con về vấn đề này trong suốt thời thơ ấu của chúng.

Đối với công tác điều tra tội phạm mạng, theo đại biểu Thủy, có thể nói đây là đối tượng tội phạm xuyên biên giới, ngồi ở nước này nhưng phạm tội ở nước khác. Các đối tượng phạm tội hầu hết đều thành thạo công nghệ. Thông tin về kẻ phạm tội đều là ảo, mạo danh. Các máy chủ hầu hết đều đặt ở nước ngoài nên dễ dàng xóa, hủy chứng cứ. Các nước đều phản ánh gặp khó khăn trong điều tra tội phạm này, do đó còn nhiều kẻ phạm tội trẻ em còn đang nhởn nhơ trên mạng xã hội.

Trong thời đại công nghệ số việc cấm trẻ em tham gia không gian mạng là đã hạn chế cơ hội tiếp cận thông tin, tri thức của trẻ. Thay vì cấm, phải hướng dẫn trẻ kiến thức, kỹ năng để trẻ khai thác thông tin mạng an toàn. Từ thực tế và cách tiếp cận như vậy, đại biểu Hoa đề nghị Chính phủ cần xây dựng chiến lược chương trình dài hạn để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, tăng cường hợp tác quốc tế và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Phân công cụ thể cơ quan đơn vị chủ trì ở trung ương để quản lý đến các vấn đề liên quan đến sự an toàn của trẻ em trên môi trường mạng nhằm điều phối các bộ ngành, thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan của Chính phủ và khu vực tư nhân, nhằm tăng cường bảo mật trẻ em trên môi trường mạng. Đối với bộ ngành, Bộ Thông tin Truyền thông xây dựng bổ sung các văn bản quy định pháp lệnh để đảm bảo có đủ hành lang pháp lý quản lý chặt chẽ đối với hoạt động cung cấp dịch vụ internet trên thế giới, hoạt động quảng cáo, hoạt động của các trang thông tin điện tử tổng hợp mạng xã hội liên quan tới trẻ em trên môi trường mạng. Bộ GD&ĐT bổ sung nhiệm vụ xây dựng chương trình nội dung giáo dục bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Phối hợp với các Bộ như Bộ Thông tin Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vv để có chương trình truyền thông giúp trẻ em có đủ kỹ năng sử dụng internet an toàn và hiệu quả. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông xã hội, nhà trường, gia đình để giúp các em nhận biết cảnh báo các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin về nội dung không phù hợp với trẻ em. Về phía các cơ quan truyền thông, không khuyến khích các nhà truyền thông thông tin các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em. Đối với các doanh nghiệp CNTT, tăng cường vai trò của các doanh nghiệp CNTT trong  truyền thông, trong việc tạo dựng một môi trường mạng an toàn cho trẻ em.

Đại biểu Thủy kiến nghị 3 vấn đề: Trước hết, các bậc phụ huynh dành quan tâm thỏa đáng hướng dẫn cho con sử dụng mạng an toàn và hướng cho con trở thành công dân có trách nhiệm trên mạng xã hội. Thứ hai, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung giảng dạy về an toàn trên môi trường mạng vào giờ học tin học. Thứ ba, Bộ Công an thông tin đầy đủ về thủ đoạn của loại tội phạm này để trẻ em và gia đình đề cao cảnh giác, đồng thời tăng cường biện pháp nghiệp vụ để ngăn chặn hiệu quả hành vi phạm tội.

Vẫn thiếu cơ chế bảo vệ trẻ em hiệu quả

ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) cho biết, qua tiếp xúc cử tri, nhiều người quan tâm đến vấn đề xâm hại trẻ em và mong muốn sớm phát hiện, truy tố, xét xử các đối tượng xâm hại. Từ thực tế, đối tượng xâm hại trẻ em hầu hết là những người thân quen, lợi dụng sự ngây thơ của trẻ em để lạm dụng; có những tội phạm tái phạm nhiều lần… khiến dư luận xã hội hết sức bức xúc đơn cử như những vụ: ông nội, cha ruột xâm hại bé gái; vụ cháu gái gửi tâm thư tố cáo bị đối tượng 70 tuổi xâm hại hay những vụ bảo mẫu, thầy, cô giáo bạo hành, xâm hại trẻ em trong thời gian dài… những vụ án đó thể hiện tính chất phức tạp, kéo dài. Các em dù đã cố gắng chống lại, cầu cứu, tố cáo… những đâu đó vẫn thiếu cơ chế bảo vệ hiệu quả, điều này khiến chúng ta không khỏi hồ nghi: liệu còn bao nhiêu trẻ em đang kêu cứu trong tuyệt vọng mà không được hồi đáp? Liệu còn bao nhiêu kẻ thủ ác tiếp tục phạm tội bởi pháp luật không đủ xử lý và răn đe?

Những tồn tại về mặt thể chất có thể đong đếm nhưng những tổn thương tinh thần mãi mãi còn lại trong ký ức của các em. Tình trạng trên càng chứng minh việc Quốc hội tổ chức giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em là cần thiết, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, sự quan tâm đến trẻ em - thế hệ tương lai của đất nước. Theo đại biểu Phương, qua giám sát đã làm rõ thực trạng vi phạm và xử lý, xem xét sửa đổi, điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật nhằm xử lý nghiêm đối tượng vi phạm; kiến nghị đưa ra chủ trương, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Qua giám sát cũng đã phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong văn bản pháp luật, cụ thể: nhiều quy định về tội ấu dâm chưa bảo đảm; chưa có phòng xử án thân thiện; chưa có cơ chế điều tra phù hợp với trẻ em… Bên canh đó, nhiều trẻ em bị xâm hại do cha mẹ đi làm xa, cha mẹ ly hôn, trẻ em lang thang cơ nhỡ… Có tình trạng trẻ em bị xâm hại qua mạng, trong đó, nhiều vụ việc để lại hậu quả nghiêm trọng cho trẻ em như tự tử, tự làm hại mình. “Tất cả những thực tế đó khẳng định, giám sát của Quốc hội nhằm yêu cầu cần phải có một sự đột phá đòi hỏi tất cả các cấp, ngành, gia đình và toàn xã hội cần vào cuộc quyết liệt nhằm tạo hành lang pháp lý đủ mạnh, cơ chế chặt chẽ mang tính phòng ngừa, răn đe và có hệ thống, tiếp nhận thông tin cởi mở để trẻ em dễ dàng tiếp cận, kêu cứu trong trường hợp khẩn cấp”, đại biểu Phương nhấn mạnh.

Về một số giải pháp cần tập trung trong thời gian tới, đại biểu Phương kiến nghị, Chính phủ, các cơ quan liên quan cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ trẻ em; nghiên cứu, đề xuất Quốc hội hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng và bổ sung hình phạt đối với các tội danh xâm hại trẻ em; mở rộng hình thức phạt như thiến hoá học, nâng mức xử phạt hành chính, lao động công ích, công khai danh tính kẻ xâm hại… để răn đe đối tượng xâm hại, tránh đối tượng tái phạm.

Các bộ, ngành liên quan cần nghiên cứu để có cơ chế phối hợp trong quá trình lấy lời khai của trẻ bị xâm hại, cần có mặt của bác sĩ tâm lý, người giám hộ, có thể ghi hình để làm bằng chứng trước khi tòa xét xử. Cần bố trí các phòng xử án thân thiện, bảo đảm giữ kín danh tính cho trẻ em bị xâm hại; trong quá trình đưa tin, báo chí cũng cần cẩn trọng trong quá trình đưa tin nhằm tránh làm ảnh hưởng đến tương lai của trẻ.

Bên cạnh đó, cần tập huấn thường xuyên cho đội ngũ điều tra, kiểm sát, xét xử về nghiệp vụ, kỹ năng làm việc với trẻ em; đặc biệt, cần phải thống nhất quan điểm, lý do biện hộ cho hành vi xâm hại trẻ em như do nạn nhân ăn mặc hở hang hay do uống rượu say… Theo đại biểu Phương, cần bổ sung quy định trong Luật Giám định tư pháp theo hướng việc giám định tư pháp với những vụ việc xâm hại trẻ em cần phải được đặc biệt quan tâm.

Cần đánh giá hiệu quả thực chất các chương trình, đề án về trẻ em

ĐBQH Trần Thị Hiền (Hà Nam) đánh giá cao Báo cáo kết quả giám sát chi tiết và các phụ lục kèm theo mà Đoàn giám sát của Quốc hội đã gửi đến các ĐBQH. Khẳng định các kết quả này là công sức, trách nhiệm và tâm huyết của Đoàn giám sát trong việc phúc đáp sự quan tâm của cử tri cả nước, đại biểu cũng chia sẻ nhiều cảm xúc khi đọc những thông tin, số liệu mang tính cảnh báo nghiêm trọng như: năm 2019, số trẻ em bị xâm hại tăng đột biến, xâm hại tình dục chiếm 75,38% tổng số vụ xâm hại trẻ em, một số địa phương tỷ lệ này chiếm trên 90%; TP Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 trong nhiều địa phương có số trẻ em bị xâm hại nhiều nhất trên cả nước. Và rất đau xót khi Hà Nội là địa phương có số trẻ em xâm hại dẫn đến tử vong cao nhất 12 em, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu về số trẻ em mang thai do xâm hại tình dục là 86 em. “Những nơi thật sự an toàn nhất đối với trẻ em như gia đình, trường học, cơ sở bảo trợ xã hội… lại là những nơi có nguy cơ xâm hại trẻ em xảy ra, sự suy bại về đạo đức xã hội đến cùng cực khi bố đẻ xâm hại con ruột, bố dượng xâm hại con riêng của vợ…”, đại biểu Hiền nói.

Đây là lần đầu tiên Quốc hội giám sát về chủ đề có tính chuyên môn sâu và hoàn toàn không dễ dàng để thu thập thông tin, số liệu. Song đại biểu Hiền cũng cho rằng, trong đợt giám sát này, có những lý do khách quan còn những vấn đề nói ra nhưng chưa có điều kiện để làm rõ. Đại biểu cũng đề cập 3 nội dung lớn liên quan đến chuyên đề giám sát của Quốc hội:

Một là, số liệu thống kê, đại biểu Hiền bày tỏ đồng tình và day dứt với kết luận của Đoàn giám sát nêu tại cuối trang 3. Qua giám sát cho thấy còn nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại nhưng chưa phát hiện kịp thời, đầy đủ để xử lý, nhất là những hành vi gây tổn hại về thể chất, tinh thần cho trẻ em. Mặt khác công tác theo dõi, thống kê số trẻ em bị xâm hại chưa được quan tâm đúng mức điều này dẫn đến số vụ xâm hại trẻ em bị phát hiện xử lý nghiêm như trong báo cáo chưa phản ánh đầy đủ tình hình trẻ em bị xâm hại trên thực tế. Như vậy chúng ta hiểu rằng, còn tồn tại trong số liệu thống kê về xâm hại trẻ em và thực tế trong nội dung giám sát không có kiểu thống kê nào phản ánh tình hình xâm hại trẻ em trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Nguyên nhân trực tiếp, theo đại biểu là công tác đấu tranh, quản lý số liệu về vấn đề này chưa được quan tâm, mà không xa là các cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành đồng bộ chỉ tiêu thống kê về xâm hại trẻ em mặc dù nhiệm vụ này đã được xác định trong chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2020. “Tôi ủng hộ đưa vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội nội dung yêu cầu Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phải hoàn thành chỉ tiêu thống kê về xâm hại trẻ em trong năm 2020 làm nền tảng xây dựng văn hóa quản lý dựa trên số liệu”, đại biểu Hiền nhấn mạnh.

Hai là, kinh phí và hiệu quả sử dụng kinh phí trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, theo đại biểu, có thể khẳng định, Nhà nước quan tâm bố trí ngân sách, bên cạnh đó là sự ủng hộ của nhân dân, các viện trợ quốc tế không nhỏ, với khoảng gần 600 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương, 4.300 tỷ đồng từ ngân sách địa phương và hàng trăm tỷ đồng viện trợ bằng nguồn vốn hỗ trợ khác. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là số liệu này Bộ Tài chính cũng chỉ tổng hợp được từ báo cáo của 39/63 tỉnh, thành phố. 24 địa phương còn lại không biết có báo cáo hay không, có bố trí ngân sách cho hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em hay không?

Đại biểu chỉ ra vấn đề đáng quan tâm trong chấp hành ngân sách là việc sử dụng kinh phí lồng ghép theo các chương trình, đề án thuộc thẩm quyền phân bổ của địa phương. “Nếu không xác định được đây là nhiệm vụ được ưu tiên thì địa phương sẽ không phân bổ hoặc sử dụng nguồn kinh phí này cho những nhiệm vụ ưu tiên khác.Ví dụ chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 thì đến giữa kỳ mới được bố trí kinh phí. Do vậy, có thể hiểu số lượng 24 tỉnh, thành phố không có báo cáo về sử dụng kinh phí cũng có nghĩa công tác này chưa được quan tâm ở đây”, đại biểu Hiền nói.

Vấn đề thứ ba, theo đại biểu, chưa được đề cập trong các báo cáo là trong giai đoạn 2016 – 2020 đã có nhiều chương trình hành động liên quan đến bảo vệ trẻ em với nhiều chỉ tiêu cụ thể. Ví dụ chương trình hành động quốc gia về trẻ em giai đoạn 2012 – 2020 theo Quyết định 155 đề ra chỉ tiêu số trẻ em bị bạo lực giảm 20% vào năm 2015, giảm 40% vào năm 2020; chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em 2016 – 2020 theo Quyết định 2361 đề ra mục tiêu tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chiếm 5% trong tổng số trẻ em, giảm tỷ lệ gia tăng số trẻ em bị xâm hại, 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển… “Cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu của những chương trình, đề án đạt đến đâu, từ đó đặt ra vấn đề xa hơn là xem chỉ tiêu, mục tiêu nào có ý nghĩa, có nên triển khai nhiều chương trình, đề án trong một giai đoạn khi nguồn lực tài chính còn hạn chế hay không?”, đại biểu đặt câu hỏi.

Một mình ngành công an cũng không thể làm tốt được

Đã có 55 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đăng ký phát biểu ngay khi Quốc hội bắt đầu phiên giám sát tối cao sáng nay. ĐBQH Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đánh giá, trong năm qua cùng sự quan tâm của các cấp các ngành, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em như quyền bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, quyền được giáo dục, học tập, phát triển năng khiếu, quyền bí mật đời sống riêng tư. Các đối tượng xâm hại trẻ em đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một thực trạng nhức nhối diễn ra nghiêm trọng đó là tình hình xâm hại trẻ em đang là vấn nạn để lại hậu quả nặng nề không chỉ bản thân người bị hại mà còn ảnh hưởng cả gia đình và xã hội không những ở vùng nông thôn, miền núi vùng sâu vùng xa mà ngay cả địa bàn kinh tế, xã hội đang phát triển cũng xảy ra. Những con số đau lòng sau đây cho thấy mảng tối của công tác phòng chống xâm hại trẻ em là đáng báo động. Khi mỗi ngày trung bình có 7 trẻ em bị xâm hại, 1 năm có 38 trẻ em bị giết hại, 133 trẻ em bị thương tích, 1286 trẻ em bị xâm hại và 84 trẻ em mang thai. Qua thực tế cho thấy còn nhiều trẻ em bị xâm hại nhưng chưa đc phát hiện kịp thời, chưa đầy đủ xử lý nhất là các hành vi bạo lực gia đình xuất phát từ những người thân gây tổn hại về thể chất, tinh thần, sức khỏe cho trẻ em. Công tác theo dõi thống kê chưa được đầy đủ, điều này phản ánh chưa đúng thực trạng trẻ em bị bạo hành và trách nhiệm của các ngành, các cấp về bảo vệ chăm sóc trẻ em không được quan tâm đúng mức. Đối tượng xâm hại trẻ em rất đa dạng, có trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp khác nhau. Nhiều đối tượng có mối quan hệ với trẻ như người ruột thịt, người thân thích và người quen biết với trẻ chiếm trên dưới 90%. Có đối tượng là giáo viên, nhân viên cơ sở giáo dục, cán bộ công chức viên chức người cao tuổi…

Nguyên nhân của tình trạng trên theo đại biểu Hòa là: do tác động, mặt trái của kinh tế thị trường, sự sụt giảm nghiêm trọng về đạo đức xã hội trong một bộ phận người dân, tình trạng lạm dụng rượu, bia chất kích thích chưa được ngăn chặn hiệu quả, phim bạo lực, khiêu dâm, những thông tin độc hại trên trạng mạng xã hội, internet tràn lan cũng tác động rất tiêu cực cho trẻ em, biết độc hại mà vẫn có một bộ phận không nhỏ trẻ vị thành niên hiếu kỳ, tìm hiểu, lâu dần bị tiêm nhiễm. Nhiều bậc cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc, chia sẻ vấn đề giới tính với trẻ em về ý thức, kỹ năng phòng, chống xâm hại. Mặt khác, khi trẻ em bị xâm hại, việc đưa trẻ đi giám định, hoặc đến cơ quan chức năng trình báo vụ việc chậm trễ và đưa trẻ đến cơ sở y tế khám sức khỏe khi bị xâm hại trước khi báo cho cơ quan chức năng biết vụ việc. Thời gian dài nên làm thay đổi dấu vết bị xâm hại rất khó khăn cho công tác giám định, gây khó cho công tác tư pháp, trước hết là giám định vì khi có kết quả giám định mới xử lý được tội phạm. Cũng có nhiều trường hợp tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại với nhau nên không cho trẻ đi giám định y khoa. Có trường hợp bị hăm dọa, khống chế, dụ dỗ vật chất. Cá biệt có trường hợp lúc đầu trình báo với cơ quan công an, sau đó lại nộp đơn khiếu nại, tố cáo, không hợp tác với cơ quan điều tra vì nhiều lý do khác nhau. Có nhiều trường hợp xâm hại trẻ em chỉ có hai người không có chứng cứ cụ thể, nên cũng rất khó khăn xử lý đối tượng xâm hại và tiếp xúc với gia đình của nạn nhân. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, kiến thức kỹ năng, có rất nhiều gia đình được hỏi chưa biết nội dung trẻ em, trẻ em chưa biết tuổi thiếu niên là bao nhiêu, nên tuyên truyền chính sách pháp luật ở cơ sở nơi nào cũng có vậy mà chưa được quan tâm. Điều này chứng tỏ công tác truyền thông chưa hiệu quả, thậm chí hiện nay trong chương trình thời sự 19g, giờ vàng dành phải riêng cho chương trình quảng cáo, không có chương trình của thiếu nhi.

Công tác phát hiện, tố giác tội phạm thường là sự việc đã rồi, một số tội danh, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe, nhiều khi không tương xứng với hành vi sai phạm. Sự gắn kết trong gia đình có hiện tượng lỏng lẻo, cha mẹ con cái ít gặp nhau chí ít chỉ được buổi tối, nhưng mỗi thành viên gia đình có chương trình riêng, thậm chí buổi tối bữa cơm gia đình không đủ các thành viên.

Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống xâm hại trẻ em trong nhiều trường hợp chưa hiệu quả, có hiện tượng phó mặc cho ngành thương binh xã hội và ngành giáo dục, mặc dù đã có quy định rõ ràng trong Luật Trẻ em cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp nhưng đa phần sự việc xảy ra là nhiệm vụ của cơ quan tư pháp, nhất là của công an. Đại biểu Hòa cho rằng, không có sự phối hợp của các ngành thì một mình ngành công an không thể làm tốt được, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ cũng không thể đứng ngoài cuộc.

Để hạn chế, kiểm soát tình hình xâm hại trẻ em trong thời gian tới đạt kết quả thiết thực, đại biểu Hòa đề nghị các cấp các ngành: Đẩy mạnh đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về xâm hại trẻ em và hậu quả của nó. Trong đó chú trọng lồng ghép nội dung truyền thông trong sinh hoạt của từng địa bàn, từng vùng, từng nơi, nông thôn, tổ dân phố, các phương tiện truyền thông, nhà trường hãy dành thời gian hợp lý để tuyên truyền giáo dục pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em, nhất là kỹ năng phòng, chống xâm hại. Đối với gia đình, cần trang bị cho các em biết cách thức phòng vệ những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại. Trẻ em nếu có sai phạm hãy nâng đỡ, thương yêu, giáo dục, không bạo hành trẻ… Đối với nhà trường phối hợp với cơ quan chuyên môn tổ chức chuyên đề về sức khỏe sinh sản cho học sinh, thày cô cần quan tâm những học sinh có biểu hiện bất an, không tập trung, lo lắng, trầm cảm… đặc biệt tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương; hãy quan tâm chăm sóc, giáo dục, quản lý học sinh, tránh thói hư, tật xấu vi phạm pháp luật, trang mạng internet, trang mạng xã hội cũng cần được quan tâm đúng mức.

Cùng với đó, phải nâng cao hiệu quả công tác điều tra xét xử tội phạm xâm hại trẻ em, kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh. Vận động nhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại trẻ em. Đối với những người phạm tội cần phải xử lý nghiêm minh kịp thời, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, dành khung hình phạt cao nhất cho kẻ phạm tội trên các hành vi xâm hại trẻ em… Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các cơ quan đơn vị tổ chức chính trị xã hội cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp cần rõ ràng minh bạch. Quy định trách nhiệm xử lý phải gắn trách nhiệm cá nhân với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác phối hợp nếu không, công tác phòng, chống xâm hại trẻ em sẽ là hình thức, không cơ quan, tổ chức cá nhân nào chịu trách nhiệm, đại biểu Hòa khẳng định.

8.442 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, xử lý

Trình bày Báo cáo tóm tắt kết quả giám sát trước Quốc hội, cử tri và Nhân dân cả nước, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, Phó trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Lê Thị Nga nêu rõ, cùng với sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em. Tuy nhiên, vẫn xảy ra các vụ xâm hại trẻ em, trong đó nhiều vụ xâm hại nghiêm trọng. Theo Báo cáo của Chính phủ, trong giai đoạn giám sát (từ 1.1.2015 đến 30.6.2019) có 8.442 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, xử lý, với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Ngoài ra, còn số lượng khá lớn trẻ em lao động không đúng quy định của pháp luật về lao động, trẻ em bị bỏ rơi, bỏ mặc và trẻ em tảo hôn.


Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, Phó trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Lê Thị Nga phát biểu. 

Đoàn giám sát nhận thấy, thời gian qua, hệ thống chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em đạt được những kết quả quan trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em được quan tâm hơn, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức và toàn xã hội trong việc phòng, chống xâm hại trẻ em, đồng thời giúp trẻ em nâng cao hiểu biết, kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ.

Công tác xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh trong gia đình, nhà trường và xã hội nhằm phòng, chống xâm hại trẻ em được tăng cường. Việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em có nguy cơ bị xâm hại và trẻ em bị xâm hại được chú trọng hơn, qua đó góp phần hạn chế những tổn hại về thể chất, tinh thần mà trẻ em phải gánh chịu.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống xâm hại trẻ em được quan tâm hơn. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến phòng, chống xâm hại trẻ em được thực hiện kịp thời, đúng pháp luật.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại trẻ em cơ bản được tiến hành kịp thời, nghiêm minh.

Đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em từng bước được củng cố, kiện toàn; tại các tỉnh, thành phố đều hình thành đội ngũ cộng tác viên tham gia công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em; tổ chức phối hợp liên ngành về công tác trẻ em được thành lập ở địa phương các cấp; nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em được thành lập. Kinh phí bố trí cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng từng bước được quan tâm hơn.

Trên cơ sở kết quả giám sát, Đoàn giám sát của Quốc hội đã có kiến nghị cụ thể đối với Ban Chấp hành Trung ương Đảng; 5 kiến nghị đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; 15 kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ thuộc Chính phủ; đồng thời có kiến nghị đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

Chế tài xử phạt chưa bảo đảm tính răn đe

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga cũng chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

Trước hết là, một số quy định của Luật Trẻ em và các luật có liên quan chưa được hướng dẫn kịp thời, đầy đủ nên còn khó khăn trong tổ chức thực hiện; một số chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong các nghị định liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa bảo đảm tính răn đe.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em chưa được tiến hành thường xuyên; hình thức tuyên truyền chậm đổi mới; nội dung tuyên truyền còn nghèo nàn, chưa thiết thực.

Việc xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh nhằm phòng chống xâm hại trẻ em ở nhiều địa phương chưa được chú trọng đúng mức; vẫn để xảy ra nhiều vụ xâm hại trẻ em, thậm chí xảy ra cả trong gia đình và nhà trường. Công tác bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng chưa đáp ứng yêu cầu. Cùng với sự phát triển của du lịch, nhiều khách quốc tế đến Việt Nam, trong đó có cả những đối tượng đã có án tích về xâm hại trẻ em, nhưng biện pháp quản lý, giám sát các đối tượng này chưa chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ xâm hại trẻ em trong hoạt động du lịch, đặc biệt là xâm hại tình dục. Ủy ban nhân dân một số địa phương chưa quan tâm bố trí đất đai, đầu tư xây dựng các điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao cho trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.

Công tác hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ có nguy cơ bị xâm hại hoặc đã bị xâm hại còn một số hạn chế; nhiều địa phương chưa thống kê đầy đủ, chính xác số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nên không cảnh báo được nguy cơ và biện pháp phòng ngừa xâm hại trẻ em chưa tương xứng với tình hình.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được tiến hành thường xuyên, hiệu quả chưa cao; hầu như chưa tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên sâu về phòng, chống xâm hại trẻ em; qua thanh tra, kiểm tra, rất ít phát hiện được vi phạm, trong khi tình hình xâm hại trẻ em diễn biến phức tạp. Việc giải quyết một số vụ xâm hại trẻ em chưa kịp thời, chưa nghiêm, một số trường hợp có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em tại nhiều địa phương còn thiếu về số lượng, kiêm nhiệm nhiều việc, thường xuyên có sự thay đổi, một bộ phận hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, nhất là cấp xã. Kinh phí bảo đảm cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Quản lý nhà nước chưa thực sự hiệu quả

Những hạn chế, tồn tại trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em có nhiều nguyên nhân. Trong đó, Chủ nhiệm Ủy ban Lê Thị Nga cho biết, Đoàn giám sát của Quốc hội nhấn mạnh 9 nguyên nhân cơ bản.

Cụ thể là, một số cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng nhận thức chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, chưa thực sự quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng, thậm chí, một số nơi còn coi nhẹ công tác này. Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống xâm hại trẻ em có những nhiệm vụ còn chưa thực sự hiệu quả.

Quá trình triển khai thi hành Luật Trẻ em và các văn bản pháp luật có liên quan, một số cơ quan, địa phương, người có thẩm quyền chưa làm hết trách nhiệm; việc xử lý một số vụ việc xâm hại trẻ em còn chậm. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống xâm hại trẻ em trong nhiều trường hợp còn chưa hiệu quả. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương trong phòng, chống xâm hại trẻ em còn chưa chặt chẽ. Nguồn lực đầu tư cho công tác phòng, chống xâm hại trẻ em cả về cán bộ, cơ sở vật chất và kinh phí còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Cùng với đó là mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, kéo theo một số vấn đề xã hội có liên quan đến trẻ em, đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ trẻ em nói chung và phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng. Những tác động xấu của mạng internet, mạng xã hội dẫn đến nhiều nguy cơ xâm hại trẻ em trên môi trường mạng. Đặc điểm của các vụ xâm hại trẻ em phần nhiều xảy ra ở những nơi kín đáo, vắng vẻ, không có người chứng kiến, nhiều trẻ em là nạn nhân tuổi còn quá nhỏ, chưa nhận thức được đầy đủ sự việc; còn một số phong tục tập quán lạc hậu, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số chưa được xóa bỏ.

Đoàn giám sát đã yêu cầu Chính phủ, 14 bộ, ngành và các địa phương báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em; tổ chức 3 Đoàn công tác trực tiếp giám sát tại 17 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức làm việc với Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan trung ương; tổ chức các hội thảo, điều tra xã hội học, khảo sát một số trường học, cơ sở trợ giúp xã hội và Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em; nghiên cứu hồ sơ một số vụ án cụ thể và triển khai nhiều hoạt động khác thuộc phạm vi giám sát.

Khắc phục tồn tại, hạn chế, giảm số vụ xâm hại trẻ em

Trên cơ sở kết quả giám sát, Đoàn giám sát của Quốc hội đã có kiến nghị cụ thể đối với Ban Chấp hành Trung ương Đảng; 5 kiến nghị đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; 15 kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ thuộc Chính phủ; đồng thời có kiến nghị đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Trong đó, Đoàn giám sát nhấn mạnh một số giải pháp, kiến nghị, với Quốc hội, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Với Chính phủ, có giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại được chỉ ra trong Báo cáo của Đoàn giám sát, giảm số vụ xâm hại trẻ em. Ngay trong năm 2020, Đoàn giám sát yêu cầu Chính phủ cần ban hành theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo các Bộ ban hành các văn bản gồm: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030; Bộ chỉ tiêu thống kê về tình hình xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại trẻ em; Chương trình phòng, chống xâm hại trẻ em trong môi trường gia đình; Chương trình phòng, chống xâm hại trẻ em trong môi trường giáo dục; Chương trình phòng, chống xâm hại trẻ em trên môi trường mạng; Bộ chỉ tiêu thống kê về tình hình trẻ em và tình hình xâm hại trẻ em; Quy trình giám định đặc thù đối với các vụ xâm hại tình dục trẻ em; Quy định về điều tra thân thiện đối với trẻ em.

Đoàn giám sát cũng đề nghị Bộ Công an bảo đảm tỷ lệ điều tra khám phá tội phạm đạt trên 90%; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bảo đảm ra quyết định truy tố đúng thời hạn và truy tố bị can đúng tội danh đạt 100%; Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm tỷ lệ giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em đạt trên 90%; Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các địa phương thực hiện đầy đủ trách nhiệm Luật Trẻ em giao và tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống xâm hại trẻ em.


Ảnh: Quang Khánh

Tình trạng trẻ em bị xâm hại vẫn còn cao

Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến ngày 30.6.2019, cả nước có 24.776.733 trẻ em, chiếm 25,75% tổng dân số cả nước. Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em, như: Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, quyền được giáo dục, học tập, phát triển năng khiếu, quyền bí mật đời sống riêng tư. Đến nay, tất cả trẻ em dưới 06 tuổi được Nhà nước cấp bảo hiểm y tế miễn phí; gần 100% trẻ em dưới 01 tuổi được tham gia tiêm chủng mở rộng; gần 100% trẻ em 5 tuổi được đi học mẫu giáo; Nhà nước không thu học phí đối với học sinh học tiểu học; khoảng 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học đều giảm mạnh trong 20 năm qua, từ 20,9% năm 1999 xuống còn 16,4% năm 2009 và đến năm 2019 còn 8,3%. Số trẻ em bỏ nhà đi lang thang đã giảm mạnh, nhiều địa phương triển khai các biện pháp tích cực để không còn trẻ em bỏ nhà đi lang thang…

Cũng theo báo cáo của Chính phủ, từ ngày 1.1.2015 đến ngày 30.6.2019, cả nước đã phát hiện, xử lý về hình sự và xử lý hành chính: 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó: Xâm hại tình dục: 6.432 trẻ em, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại; Bạo lực trẻ em: 857 trẻ em (giết trẻ em: 191 trẻ, cố ý gây thương tích: 666 trẻ), chiếm 9,84% tổng số trẻ em bị xâm hại; Mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em: 106 trẻ em, chiếm 1,22% tổng số trẻ em bị xâm hại...

Theo Báo cáo của Chính phủ còn có 790.518 trẻ em lao động không đúng quy định của pháp luật về lao động; 156.932 trẻ bị bỏ rơi, bỏ mặc và khoảng 13.489 trẻ em 15 tuổi tảo hôn...

Trước đó, vào ngày 27.4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về báo cáo kết quả giám sát chuyên đề "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em".

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga - Phó Trưởng Đoàn thường trực Đoàn giám sát nêu rõ, đối với tình hình chung về xâm hại trẻ em, qua giám sát cho thấy, còn nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại nhưng chưa được phát hiện kịp thời, đầy đủ để xử lý, nhất là các hành vi bạo lực gây tổn hại về thể chất và tinh thần cho trẻ em; đồng thời công tác theo dõi, thống kê tình hình trẻ em bị xâm hại chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến, số vụ xâm hại trẻ em được phát hiện và xử lý nêu trong các báo cáo chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tế.

Qua khảo sát tại địa phương cho thấy, hầu hết trẻ em phải tham gia lao động sớm đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn; mục đích tham gia lao động để kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình, được gia đình đồng thuận; chính quyền địa phương gặp khó khăn trong việc đưa các em trở về nhà; việc xử lý hành vi môi giới, sử dụng, bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật chưa nghiêm; do đó, tình trạng này chưa được ngăn chặn hiệu quả. Đối với các trường hợp tảo hôn chủ yếu ở một số vùng dân tộc thiểu số nơi nhiều người dân vẫn còn tập tục lạc hậu, nhận thức pháp luật còn hạn chế, cần phải có lộ trình và nhiều giải pháp đồng bộ để khắc phục.

Về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em, Đoàn giám sát đã chỉ ra được kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em; Công tác xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh nhằm phòng, chống xâm hại trẻ em; Công tác hỗ trợ, can thiệp khi trẻ em có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; Công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại trẻ em; Công tác tổ chức, cán bộ, bảo đảm kinh phí phòng, chống xâm hại trẻ em; Bài học kinh nghiệm.

P. Thúy - Đ.Thủy - T. Chi - H. Ngọc - T. Thành - H. Long
Ảnh: Quang Khánh