Dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi)

Cần chương riêng về phòng ngừa ma túy 

Xem với cỡ chữ

ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Long An)

Dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đã được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Mười. Tuy nhiên, nhiều nội dung lớn, trọng tâm của dự thảo Luật này vẫn gây băn khoăn. Trong đó có những nội dung thiếu rõ ràng, tính khả thi thấp, chưa phù hợp với thực tiễn cần được rà soát và hoàn thiện trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật. 

“Phòng” còn mờ nhạt

Trước hết, tên dự án Luật là “phòng, chống ma túy” nhưng nội dung “phòng” còn rất mờ nhạt, cơ bản là giữ như các quy định của Luật hiện hành. Giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Bộ Công an cho rằng, nội dung này đã được thể hiện ở các Chương II, III, IV, V của dự thảo Luật. Nhưng quy định tại các chương này cũng chỉ chung chung, chủ yếu lồng ghép vào quy định trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, đơn vị và chỉ mang tính vận động, kêu gọi. Quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng, chưa đủ hiệu quả.

Tổng kết thi hành Luật Phòng, chống ma túy cho thấy, số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng cao, năm sau cao hơn năm trước và có sự trẻ hóa rõ rệt. Theo số liệu cuối năm 2019, cả nước có 235.314 nghìn người nghiện, có hồ sơ quản lý, trong đó, 75% là người nghiện dưới 35 tuổi, chưa kể người sử dụng ma túy, nghiện ma túy chưa bị phát hiện, người đã áp dụng cai nghiện rồi lại tiếp tục sử dụng ma túy và tái nghiện. Tình trạng thanh thiếu niên sử dụng ma túy tổng hợp trong các quán bar, nhà hàng, karaoke diễn ra ngày càng phổ biến. Thậm chí, ma túy đã xâm nhập vào học đường, giảng đường, nguy cơ gây ảnh hưởng đến chất lượng thế hệ tương lai của đất nước.

Điều đó chứng minh, thời gian qua, công tác phòng ngừa ma túy vẫn thiếu hiệu quả, chưa đủ mạnh, đủ sâu, đủ rộng. Nếu chỉ hô hào, vận động, khuyến khích, mong muốn mà không có một cơ chế cụ thể thì các quy định này có thể làm hoặc không làm cũng không sao. “Phòng” là “phòng” cho thanh niên, thiếu niên, con em chúng ta, người dân chúng ta không có cơ hội, không có điều kiện tiếp xúc, tiếp cận với ma túy nhưng nếu lỡ có tiếp cận, tiếp xúc, bị lôi kéo, xúi giục, sử dụng ma túy thì cũng đủ “đề kháng” để nói không với ma túy. “Phòng” là ngăn chặn người sử dụng ma túy trở thành người nghiện ma túy, người đã cai nghiện rồi thì không bị tái nghiện...

Do đó, dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) cần dành một chương riêng cho công tác phòng ngừa ma túy. Theo đó, quy định cụ thể, rõ ràng, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của chính quyền cơ sở, của tổ chức, của nhà trường, của gia đình. Xác định rõ đâu là trách nhiệm phải làm với chế tài kèm theo và đâu là vận động tham gia phối hợp. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế, chính sách tài chính để đầu tư cho công tác phòng ngừa, trong đó có cơ chế xã hội hóa; có chính sách cụ thể để khuyến khích, hỗ trợ thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia đầu tư vào công tác phòng, chống ma túy, từ chính sách đất đai, thuế, thủ tục đầu tư, tập trung cho đầu tư vào các cơ sở cai nghiện ma túy công lập.

Thứ hai, dự thảo Luật bổ sung quy định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy ở Chương IV từ Điều 23 đến Điều 26 không phải là biện pháp xử lý hành chính mà giao thẩm quyền cho UBND cấp xã nơi người đó cư trú có trách nhiệm tổ chức quản lý với những nội dung thiếu tính khả thi như: Người sử dụng trái phép chất ma túy tự khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình phải chấp hành việc quản lý, theo dõi và xét nghiệm theo yêu cầu; gia đình, cơ quan, tổ chức, người sử dụng trái phép chất ma túy có trách nhiệm theo dõi, quản lý, giáo dục, giúp đỡ, động viên con em mình, nhân viên mình chấm dứt hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; hay khi phát hiện người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì phải thông báo với chính quyền và ngăn chặn người sử dụng trái phép chất ma túy gây mất trật tự, gây mất an toàn cho xã hội...

Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật cần cân nhắc các quy định trên đây bởi nếu đưa vào Luật và thực hiện được thì đâu có số liệu người nghiện ma túy tăng cao qua mỗi năm? Rồi các vụ án đau lòng nghiêm trọng, các vụ tai nạn giao thông do người nghiện ma túy điều khiển phương tiện xảy ra trong thời gian qua? Hơn nữa, dự thảo Luật quy định không phải là biện pháp xử lý hành chính thì sẽ thực hiện các quy định này bằng cơ chế gì?

Có đảm đương nổi hay không?

Thứ ba, cai nghiện tại gia đình, cộng đồng là một trong những giải pháp cần thiết giúp người cai nghiện không bị cách ly khỏi xã hội, không bị gián đoạn học tập, việc làm, giảm sự kỳ thị và có cơ hội hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, cai nghiện tại cộng đồng trong thời gian qua đã được chứng minh là không có hiệu quả. Do đó, cai nghiện tại cộng đồng vừa qua hầu hết chỉ là chờ đủ số người sử dụng ma túy để lập thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Mười quy định người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng. Cụ thể là, người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện tự nguyện với cơ quan cung cấp dịch vụ cai nghiện tại cộng đồng; thời gian, địa điểm cai nghiện được thực hiện theo thỏa thuận giữa người cai nghiện ma túy và cơ quan cung cấp dịch vụ.

Theo báo cáo cả nước hiện nay có 79 cơ sở cai nghiện công lập và 18 cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân. Dự thảo Luật vừa qua quy định, các cơ sở này được cung cấp dịch vụ cai nghiện tại cộng đồng, cùng với đó là các cơ sở y tế xã hội khác nếu đủ điều kiện. Hiện nay, các cơ sở cai nghiện công lập chỉ thực hiện nhiệm vụ cai nghiện bắt buộc cho người thực hiện cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật về xử lý hành chính mà còn áp lực và vỡ trận. Liệu họ có đảm đương nổi việc cung cấp dịch vụ như dự thảo Luật quy định nữa hay không? Số lượng cơ sở cai nghiện tư nhân cũng quá ít ỏi, có đảm đương nổi hay không? Các bệnh viện, cơ sở y tế công lập có được ký hợp đồng với người nghiện để cung cấp dịch vụ cai nghiện tại gia đình và cộng đồng hay không?

Trong khi đó, cũng theo quy định của dự thảo Luật, chỉ áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, nếu không đăng ký cai nghiện tại một trong các hình thức cai nghiện tự nguyện cộng đồng hoặc ở các cơ sở cai nghiện. Với những quy định thiếu rõ ràng, thiếu khả thi và thực tiễn nêu trên thì chắc rằng con số người nghiện ma túy trong cộng đồng thời gian tới còn tăng cao hơn nữa, sẽ lôi kéo người sử dụng ma túy trái phép và khả năng phát sinh tội phạm từ những người nghiện là rất cao.

Do đó, đối với người nghiện từ đủ 18 tuổi trở lên khi phát hiện và có kết luận là nghiện ma túy thì dứt khoát phải lập thủ tục đưa vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nếu họ không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại các cơ sở tập trung và các cơ sở cai nghiện thì phải chịu chi phí cho quá trình cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện. Chỉ áp dụng quản lý, hỗ trợ ở gia đình, cộng đồng khi họ thực hiện xong cai nghiện ma túy trở về nhằm giúp họ hòa nhập với cộng đồng và phòng ngừa tái nghiện.

Quỳnh Chi ghi