Cần thiết xây dựng luật về ngôn ngữ 

Xem với cỡ chữ
Trước thực trạng tiếng Việt đang có nhiều biểu hiện lệch lạc, làm ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt, tại hội thảo “Thực trạng sử dụng tiếng Việt và những đề xuất chính sách đối với Luật về tiếng Việt”, một số đại biểu đề nghị ban hành luật về ngôn ngữ để có căn cứ định hướng các hoạt động ngôn ngữ và khẳng định vị trí và vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Hội thảo do Viện Nghiên cứu lập pháp và Ban Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ “Đề xuất chính sách xây dựng luật về tiếng Việt - Lý luận và thực tiễn” tổ chức.

Đạo luật chung cho mọi ngôn ngữ

Tiếng Việt đã được Hiến pháp năm 2013 công nhận là ngôn ngữ quốc gia nhưng hiện tại vẫn chưa có văn bản luật nào xác định tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam mặc dù tiếng Việt trên thực tế đã là ngôn ngữ chính thức; chưa có văn bản luật xác định chữ quốc ngữ là chữ viết quốc gia (quốc tự) của Việt Nam.

Tương tự, các quy chuẩn về chính tả tiếng Việt, quy tắc viết hoa, quy tắc dấu câu, quy tắc phiên chuyển từ ngữ vay mượn từ nước ngoài… cũng chưa được thống nhất mà mới điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật của nhiều cơ quan, ban ngành. Từ đó, dẫn tới tình trạng lộn xộn, thiếu thống nhất trong việc sử dụng chữ quốc ngữ.

Cảnh huống ngôn ngữ, thực trạng ngôn ngữ và nhu cầu hiện tại cho thấy việc xây dựng và ban hành luật về ngôn ngữ là cần thiết. Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam Phạm Văn Tình cho rằng, chúng ta nên xem xét đề xuất xây dựng luật về ngôn ngữ chứ không chỉ đơn thuần luật về tiếng Việt. Và nếu có, thì việc xây dựng luật tiếng Việt nên tiến hành sau khi có luật về ngôn ngữ.

Việc xây dựng luật về ngôn ngữ là xác lập chủ quyền dân tộc trong lĩnh vực tiếng nói, chữ viết của một quốc gia. Nếu như một đất nước đơn ngữ chỉ duy nhất có một dân tộc, một tiếng nói, một chữ viết thì điều này đơn giản. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có không ít hơn một dân tộc.

Chẳng hạn như Ấn Độ, ngoài tiếng Anh còn 34 tiếng các dân tộc khác. Với nước Nga, ngoài tiếng Nga có 34 tiếng dân tộc khác. Indonesia có 11 tiếng dân tộc. Papua New Guinea, ngoài 3 ngôn ngữ sử dụng chính thức là tiếng Anh, tiếng Tok Pisin, tiếng Motu thì có gần 860 ngôn ngữ được sử dụng. Về nguyên tắc, mỗi dân tộc (mà đại diện tiếng nói) là hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt ngôn ngữ đó thuộc dân tộc đa số hay thiểu số. Vì vậy, luật về ngôn ngữ là bộ luật chung cho mọi ngôn ngữ đang có trong quốc gia đó. Tất nhiên, sẽ có một ngôn ngữ chính thức được chọn là ngôn ngữ quốc gia như tiếng Việt và sẽ có một văn bản dưới luật hướng dẫn riêng về quy cách sử dụng.

Toàn cảnh hội thảo

Ảnh: Hồ Long


Bảo đảm sự trong sáng của tiếng Việt

Đã có những ý kiến cho rằng, phải có luật về ngôn ngữ để có căn cứ "bắt lỗi" ai đó trong cộng đồng sử dụng chưa đúng, chưa chuẩn khi nói năng. Những vấn đề liên quan tới từ ngữ, ngữ âm, chính tả, ngữ pháp... phải có một "cẩm nang" ngôn từ, từ đó đối chiếu với hiện thực nói và viết tiếng Việt. Nếu mắc lỗi sẽ bị phạt mới đủ sức răn đe những người thiếu trách nhiệm, làm vẩn đục sự trong sáng của tiếng Việt.

Theo Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam Phạm Văn Tình, thực tế, nội dung trong luật về ngôn ngữ rộng, đa dạng và phức tạp. Đó là vấn đề liên quan tới chính sách ngôn ngữ và các quyền cơ bản liên quan tới ngôn ngữ nói chung. Việt Nam có 54 dân tộc. Ít nhất là sẽ có 54 ngôn ngữ, tiếng nói vì có ngôn ngữ tồn tại vài thứ tiếng riêng biệt, khác nhau. Do vậy, khi xây dựng luật cần thể hiện sự tôn trọng và quyền bình đẳng đối với mọi ngôn ngữ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phải cụ thể hiện nay Việt Nam có bao nhiêu ngôn ngữ, tên gọi chính xác là gì. Ví dụ, chọn biến thể nào trong các biến thể: Mèo, H'Mông, Hơ Mông, Mông; Khmer hay Khơ Me; Tày - Nùng hay Tày, Nùng... Nhà nước sẽ có trách nhiệm bảo tồn, phát triển sự đa dạng ngôn ngữ các dân tộc. Luật cũng cần quy định trong trường hợp nào được sử dụng ngôn ngữ dân tộc.

Trong một quốc gia nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ cần lựa chọn và khẳng định, ngôn ngữ nào là ngôn ngữ quốc gia, tức "quốc ngữ" (bao gồm tiếng nói và chữ viết), được dùng chính thức trong giao tiếp và trong mọi văn bản hành chính nhà nước, trong hệ thống giáo dục, sách vở, báo chí truyền thông - quảng cáo cũng như các văn bản khoa học, văn học nghệ thuật... 

Tiếng Việt hiện tại là ngôn ngữ chính thức, được sử dụng trong các văn bản hành chính, giáo dục, lực lượng vũ trang, truyền thông, văn học... Tuy nhiên, điều khoản này chưa được luật hoá thành ngôn ngữ quốc gia vì chưa có luật về ngôn ngữ.

Từ thực tiễn cũng cho thấy cần định chế rõ trách nhiệm và quyền lợi của mọi công dân trong việc thực thi luật về ngôn ngữ. Ví dụ, một người thuộc dân tộc thiểu số có quyền nói ngôn ngữ dân tộc họ, nhưng khi đi học hoặc giao tiếp cộng đồng phải sử dụng ngôn ngữ chính thức là tiếng Việt, văn bản các cơ quan công quyền gửi tới đương sự cũng phải là tiếng Việt.

Đồng thời, cần nghiên cứu quy định, luật hoá và có các nội dung cần thực hiện các vấn đề liên quan tới ngôn ngữ tiếng Việt. Trong đó, bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn, hệ thống từ vựng chuẩn, chính tả như cách viết chuẩn giữa chính âm và chính tả, dựa trên âm và giọng chuẩn mực, cách viết tên riêng như nhân danh, địa danh..., cách viết tên nước ngoài, cách viết tắt…

Cùng với đó, cần luật hoá và đưa vào chế tài thực hiện luật về ngôn ngữ đối với mọi công dân và cả người nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Những chế tài này liên quan tới mức độ phạm lỗi và mức độ xử phạt. Trong đó, dĩ nhiên, phải nói rõ những cơ quan nào có chức trách và quyền hạn bắt lỗi và phạt lỗi.

Tất nhiên, có vấn đề cần đưa vào nội dung văn bản luật, có những vấn đề cụ thể, chi tiết sẽ đưa vào văn bản dưới luật. Điều này sẽ được xem xét và thực hiện sao cho phù hợp trong quá trình xây dựng luật về ngôn ngữ.

Hồ Long