Chiều 9.11, Quốc hội tiếp tục thảo luận về kế hoạch phát triển KT-XH và công tác phòng chống dịch 

Xem với cỡ chữ
Chiều nay, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở hội trường về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; báo cáo về công tác phòng, chống dịch Covid-19 và tình hình thực hiện Nghị quyết số 30/2021/QH15 về Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa XV.
14:23

Công tác truyền thông tốt sẽ đạt được hiệu quả trên cả hai mặt trận phòng dịch và chống dịch

Mở đầu phiên thảo luận chiều nay, ĐBQH Phạm Nam Tiến (Đắk Nông) cho rằng, dịch bệnh diễn biến phức tạp, kéo dài, mọi ngành nghề, lĩnh vực đều gặp khó, trong đó có lĩnh vực thông tin truyền thông. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, giữa tháng 3 năm nay, một trong những lĩnh vực kinh doanh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch Covid-19 là các doanh nghiệp truyền thông, chiếm 96%. Nhiều tờ báo phải cắt giảm, thậm chí tạm ngừng việc sản xuất báo giấy bởi dịch bệnh. Thế nhưng, vượt lên mọi khó khăn, thách thức, các cơ quan báo chí, thông tin truyền thông đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình. 

ĐBQH Phạm Nam Tiến (Đắk Nông) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Đại biểu cho rằng, trong cuộc chiến với Covid-19, chúng ta còn phải đối mặt với một loại dịch bệnh khác với tốc độ lây lan nhanh không kém, đó là tin giả, thông tin sai sự thật. Báo chí chính là lực lượng tích cực góp phần vạch trần tin giả, cung cấp thông tin đầy đủ về tình hình dịch bệnh ổn định đời sống và tâm lý cho người dân. Có thể khẳng định báo chí trong thời gian qua đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình trong việc phòng, chống dịch Covid-19.

Đại biểu đồng tình với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Xã hội đã chỉ ra rằng, vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm như một vài địa phương chưa làm tốt công tác thông tin tuyên truyền. Khi ban hành văn bản hướng dẫn làm cho người dân bị động, bất ngờ, không có thời gian thích ứng thông tin xấu, độc, thiếu chính xác trên các mạng xã hội khó kiểm soát. Qua phản ánh từ cơ quan báo chí, truyền thông, đại biểu nhận thấy dù cơ quan chức năng đã rất nỗ lực trong phòng, chống dịch nhưng vẫn còn một số vấn đề tồn tại trong việc cung cấp thông tin cho báo chí. Đó là sự chưa thống nhất giữa một số Bộ, ngành liên quan đến chính sách, văn bản ban hành biện pháp chống dịch. Việc chậm thay đổi một số văn bản quan trọng hướng dẫn các tiêu chí chống dịch đã khiến nhiều địa phương gặp khó, không có phương án sau giãn cách.

Bên cạnh đó, thiếu vắng một kế hoạch tổng thể về quan điểm ứng xử với dịch bệnh ở tầm quốc gia, dẫn đến nhiều địa phương chủ động làm theo những điều kiện của địa phương mình, không đồng bộ và không có sự hợp tác với địa phương khác. Mặt khác, những số liệu chuyên môn của Bộ, ngành được đưa ra truyền thông nhưng lại ít chất liệu phân tích dẫn đến một số thông tin bị hiểu lầm, gây hoang mang, lo lắng. Những yếu tố trên đã làm cho công tác truyền thông trong phòng, chống dịch cũng trở nên bị động, thiếu sự chuẩn bị bài bản.

Đại biểu cho biết, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Xã hội nêu một trong số 12 kiến nghị đó là đẩy mạnh hoạt động thông tin, truyền thông về công tác phòng, chống dịch bệnh, hạn chế không tin xấu, độc thường xuyên cập nhật, nâng cấp phần mềm quản lý thông tin về phòng, chống dịch Covid-19 nhưng thực tế như app phòng dịch vẫn mỗi nơi làm một kiểu. Các địa phương đến thời điểm này thì vẫn chưa thể thống nhất bằng một phần mềm với nhau, sẽ rất khó để thực hiện được kiến nghị này.

Đại biểu nhấn mạnh, công tác truyền thông rất quan trọng, đặc biệt là trong thời gian tới, có thể dịch bệnh sẽ tiếp diễn và thậm chí phức tạp hơn. Nếu truyền thông không thống nhất giữa các bộ, ngành, địa phương thì rất khó để ngăn chặn, khống chế dịch bệnh. Cùng với giải pháp thống nhất trong các chính sách, văn bản chống dịch, đại biểu kiến nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, đưa tin thống nhất, chính xác, tránh sai sót, đảm bảo cung cấp thông tin theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống Covid-19.

Đại biểu nhấn mạnh, trong cuộc chiến này cũng lộ diện các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng việc phòng, chống dịch để chống phá cách mạng Việt Nam. Đó là những kẻ lợi dụng dịch bệnh để phao tin đồn nhảm làm rối, gây hoang mang trong dân, ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống dịch. Đây cũng là một loại dịch bệnh nguy hiểm cần phòng và chống triệt để, vì vậy, công tác truyền thông trong phòng, chống dịch nếu làm tốt sẽ đạt được hiệu quả trên cả hai Mặt trận phòng dịch, chống dịch.

14:37

Cần có một chiến lược truyền thông đúng nghĩa cho cuộc chiến chống dịch bệnh lâu dài và phục hồi kinh tế

Thảo luận về kinh tế - xã hội chiều nay, ĐBQH Đặng Xuân Phương (Nghệ An) cơ bản tán thành với nhận định của Chính phủ về những kết quả đã đạt được trong năm 2021 cùng việc ghi nhận những nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân và các lực lượng chủ động tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 để có thể đưa nước ta trở lại trạng thái bình thường mới và phục hồi kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đại biểu cũng đồng tình với ý kiến của ĐBQH Phạm Nam Tiến, đó là cần có thêm những đánh giá thực sự xác đáng, đúng tầm về sự phát huy tác dụng của thông tin và truyền thông, một lĩnh vực đã trở thành yêu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, là liều thuốc tinh thần bảo đảm sức chống chịu lâu dài của nhân dân đi qua đại dịch.

ĐBQH Đặng Xuân Phương (Nghệ An) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Nhằm khẳng định thêm tầm quan trọng của lĩnh vực này, đại biểu đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thông tin, truyền thông.

Thứ nhất, Chính phủ cần có một chiến lược truyền thông đúng nghĩa cho cuộc chiến chống dịch bệnh lâu dài cũng như cho phục hồi kinh tế. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước được chuyển tải nhanh nhất, trực diện nhất đến mọi người dân thông qua các thông điệp ngắn gọn, rõ do lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương đưa ra, dẫn dắt hành động của người dân nên tất cả các cấp, các ngành đều phải nắm được đầy đủ, chính xác để giải thích được với mọi người. Các thông điệp đó cần phải được tư vấn truyền thông một cách chuyên nghiệp, không nên xuất hiện một cách ngẫu hứng hay đến từ những ý tưởng đề xuất mang tính phong trào. Bên cạnh đó, cũng cần có sự quan tâm xây dựng hình ảnh cho lãnh đạo khi tham gia chỉ đạo chống dịch một cách phù hợp.

Thứ hai, các sản phẩm thông tin giải trí trên các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mọi gia đình, mọi người dân trong xã hội. Tuy nhiên, hiện nay các sản phẩm thông tin này rất đa dạng, bùng phát tràn lan trên các nền tảng số xuyên quốc gia, gây ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu sản xuất các chương trình giải trí và phim trên các kênh truyền hình trong nước. Để khắc phục, nhiều đài, truyền hình trong nước đã chọn phát các bộ phim, chương trình giải trí nước ngoài hoặc có nguồn gốc kịch bản nước ngoài phù hợp với thị hiếu để thu hút được tỷ suất người xem cao vào các khung giờ vàng và giúp tăng doanh thu quảng cáo. Trong quá trình thực hiện các mục tiêu Chiến lược phát triển của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 càng phải quyết tâm thực hiện mục tiêu xây dựng, phát triển, phát huy các giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam đã được Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đề ra. Trong đó, đại biểu cho rằng cần quan tâm đầu tư cho công nghiệp văn hóa và truyền thông đại chúng với định hướng chiến lược rõ ràng giúp nâng cao chất lượng phim và các sản phẩm giải trí phổ biến trên các kênh truyền hình trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Thứ ba, cần có sự phối hợp chính sách thông qua việc quan tâm hơn đến ngành sử học và văn học lịch sử để làm cơ sở cho việc thúc đẩy sáng tạo ra các tác phẩm điện ảnh, truyền hình về các đề tài lịch sử có chất lượng cao, góp phần bồi đắp thêm kiến thức cho giới trẻ về lịch sử, văn hóa dân tộc. Cần sớm có chỉ đạo để những trung tâm lớn về khoa học xã hội của nước ta tăng cường phối hợp với các tổ chức trong lĩnh vực khoa học xã hội, văn học nghệ thuật cùng với các quỹ nghiên cứu đẩy mạnh đặt hàng, hỗ trợ, tài trợ cho việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, các đề tài và các sáng tác với chủ đề văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, góp phần tạo lập cơ sở khoa học và văn học cho việc sản xuất các chương trình.

Theo đại biểu, trong thời gian qua, giới trẻ Việt Nam đã có rất nhiều thành quả sáng tạo quan trọng trong nghiên cứu lịch sử như thời trang phục cổ, sáng tác âm nhạc mang âm hưởng truyền thống, sản xuất truyện tranh, xuất bản truyện tranh, sản xuất các bộ phim truyện và video clip về các chủ đề lịch sử, dã sử, văn học dân gian. Trào lưu này trong giới trẻ đã và đang thu hút được đông đảo công chúng quan tâm nên rất cần được Đảng, Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ đầu tư thích đáng.

Trong không khí hướng tới Hội nghị Văn hóa toàn quốc sắp tới, Ủy Ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội đã có kiến nghị lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương nghiên cứu tham mưu cho Trung ương Đảng sớm ra Nghị quyết nhằm định hướng đổi mới toàn diện, chấn hưng văn hóa nước nhà, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong đó, đại biểu cho rằng các dịch vụ phát thanh, truyền hình và xuất bản cần được coi là phương tiện chủ lực để tuyên truyền, giáo dục về văn hóa, lịch sử dân tộc.

14:55

Tăng thêm mức bội chi ngân sách để tạo nguồn lực thực hiện mục tiêu kép

Theo ĐBQH Hà Đức Minh (Lào Cai), đã có nhiều cơ chế, chính sách về miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và các gói hỗ trợ trực tiếp người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên so với yêu cầu và mặt bằng chung, các gói hỗ trợ, kích thích này chưa bảo đảm được tính toàn diện và bền vững. Do vậy, theo tôi cần đánh giá căn cơ tổng nhu cầu cần hỗ trợ của người dân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế như thế nào để vượt ngưỡng khó khăn và khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước để từ đó đưa ra các gói kích thích kinh tế để lớn, đủ rộng trong khoảng thời gian đủ dài để đạt được các mục tiêu.

Theo đại biểu, thời gian tới công tác triển khai mục tiêu kép cần có 5 mục tiêu cần đạt được đó là linh hoạt các phương án phòng, chống và kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, nâng cao khả năng chữa trị cho hệ thống y tế; bảo đảm việc làm cho người dân và ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; khởi động lại các hoạt động kinh tế sau phong tỏa, giãn cách; xây dựng lại một cấu trúc kinh tế có khả năng chống chịu tốt trước thảm họa; tăng cường khả năng đối phó với các thảm họa trong tương lai.

ĐBQH Hà Đức Minh (Lào Cai) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Để hiện thực hóa 5 mục tiêu nêu trên, ngoài yếu tố về ý chí và tinh thần quyết tâm, đại biểu Hà Đức Minh nhấn mạnh yếu tố nguồn lực là tiên quyết. Bởi nền kinh tế của chúng ta đang phải chịu tác động rất lớn bởi sự bùng phát của đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 kể từ cuối tháng 4.2021. Năng lực chống chịu của nền kinh tế thì có hạn, nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài thì cú sốc đối với tăng trưởng và tính ổn định của nền kinh tế sẽ rất khó lường trong thời gian tới. Vì vậy, ngoài các nguồn lực hiện nay, đại biểu đề xuất có thể tăng thêm mức bội chi ngân sách. Hiện nay, bội chi năm 2021 là gần 344 nghìn tỷ đồng, bằng 4% GDP; dự kiến phương án đang trình ra Quốc hội năm 2022 là gần 373 nghìn tỷ cũng bằng khoảng 4%GDP. Trong khi đó tổng chi đầu tư phát triển năm 2022 dự kiến tối thiểu là 526 nghìn tỷ. Mặt khác, do các địa phương thường giao tăng chi đầu tư phát triển so với Trung ương giao. Như vậy dư địa bội chi theo luật là còn khoảng ít nhất là 153 nghìn tỷ.

Tiếp đó là có thể nới trần nợ công. Hiện nay, trần nợ công của nước ta quy định ở mức khoảng 60% GDP, nhưng trên thực tế chỉ mới đạt khoảng 44-45% GDP. Như vậy là hoàn toàn có thể nới nợ công để có thể tiếp tục huy động vốn để vừa chống dịch vừa hỗ trợ doanh nghiệp và người dân...

15:09

Kiến tạo mô hình mới để sống chung với dịch Covid-19

Cơ bản thống nhất với 5 quan điểm trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, 5 cân đối lớn cần đạt được và 12 nhóm dịch vụ, giải pháp như kế hoạch đã đề ra, ĐBQH Trần Chí Cường (Đà Nẵng) cũng góp ý thêm 3 vấn đề.

ĐBQH Trần Chí Cường (Đà Nẵng) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Trước tiên, với mục tiêu thích ứng linh hoạt kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân, tập trung tận dụng tốt các cơ hội để phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, bên cạnh các giải pháp và nhiệm vụ đã nêu, đại biểu đề nghị Chính phủ cần quan tâm, xúc tiến triển khai hệ thống quản lý rủi ro quốc gia để tăng cường, nâng cao năng lực công tác dự báo và ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Cần tập trung quan tâm nghiên cứu và triển khai mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn vấn đề phân cấp, phân quyền cho địa phương nhằm tăng tính chủ động, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm của địa phương. Đi đôi với công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện xử lý trách nhiệm cá nhân nhưng cũng tạo ra cơ chế, điều kiện để cán bộ tham mưu, đề xuất; lãnh đạo dám quyết định và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, cần có giải pháp căn cơ để xử lý những hạn chế, yếu kém, tồn đọng từ lâu của nền kinh tế, nhất là cải cách thủ tục về đầu tư, việc giải ngân vốn đầu tư công, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý vấn đề các dự án thua lỗ lớn, các dự án chậm triển khai kéo dài do vướng mắc về thủ tục.

Thêm vào đó, trước bối cảnh tác động rất lớn của dịch bệnh đến nền kinh tế toàn cầu và khu vực, làn sóng dịch chuyển đầu tư, chuyển đổi mô hình kinh tế, thay đổi thói quen,… đòi hỏi và đặt ra yêu cầu phải sáng tạo, lựa chọn cách làm và phương thức quản lý để giải quyết vấn đề phát sinh. Theo đại biểu, cần nghiên cứu kỹ lưỡng để kiến tạo mô hình mới, thích ứng với chiến lược sống chung với Covid-19, ưu tiên thực hiện cơ cấu đối với nội hàm từng lĩnh vực kinh tế, từng ngành kinh tế để nâng cao khả năng đề kháng vượt qua khó khăn và khôi phục phát triển cho từng lĩnh vực nhất là ngành du lịch, dịch vụ. Việc cơ cấu lại không gian kinh tế, phát triển mạng lưới doanh nghiệp sản xuất cần gắn với phân bổ nguồn lực lao động, nhất là trong xu hướng dịch chuyển người lao động như đã diễn ra vừa qua, tạo cơ hội phát triển đồng đều hơn ở các cấp, địa phương. Khẩn trương xây dựng chính sách mở cửa cho thị trường du lịch quốc tế để nhanh chóng thí điểm phục hồi hoạt động du lịch và giao thương quốc tế ở những trung tâm du lịch đủ điều kiện về phòng, chống dịch. Cũng theo đại biểu, cần đẩy mạnh và phát huy liên kết vùng gắn với thể chế điều phối vùng để sự liên kết có hiệu lực, hiệu quả, thống nhất và thực chất hơn, phát huy được yếu tố bổ trợ lẫn nhau giữa các địa phương liên kết. Đây là vấn đề còn khá yếu, nhất là trong thực hiện phòng, chống dịch và duy trì hoạt động nền kinh tế trong thời gian vừa qua.

Đại biểu cũng cho rằng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những bước chuyển biến tích cực, từng bước tạo hành lang pháp lý ổn định cho phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, qua thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập, chồng chéo, vướng mắc. Kết quả rà soát kiến nghị của 63 tỉnh thành cho thấy những vướng mắc, khó khăn về đầu tư, sản xuất kinh doanh do các quy định pháp luật chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tế liên quan đến 79 Luật, 3 Nghị quyết của Quốc hội, 188 Nghị định, 20 Quyết định của Thủ tướng và 135 Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của 21 bộ, cơ quan ngang bộ. Điều này đã tạo nên rào cản, gây cản trở rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy cần có giải pháp quyết liệt hơn để sớm tháo gỡ, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi khơi thông các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong năm 2022 mà trong cả chiến lược phát triển của những năm tiếp theo.

15:18

Đề xuất chuyển 100.000 tỷ đầu tư công sang để hỗ trợ các doanh nghiệp và phòng, chống dịch 

Theo ĐBQH Nguyễn Thiện Nhân (TP. Hồ Chí Minh), trong làn sóng dịch lần thứ 4, TP. Hồ Chí Minh là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, có hơn 430.000 người nhiễm (chiếm 47 % cả nước) và hơn 16.600 người đã mất (chiếm 75 % cả nước). Khi thực hiện phương châm "ai ở đâu thì ở đấy", về cơ bản hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phố chỉ duy trì mức tối thiểu. Bình quân giai đoạn đó chỉ có khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động (chiếm 0,7%) nghĩa là 99% doanh nghiệp không hoạt động và 99% người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập trong hơn 3 tháng. Dự báo, năm nay tăng trưởng âm 5%, để khắc phục hậu quả của covid-19 phục hồi tăng trưởng kinh tế, thành phố đã xác định có 4 giải pháp cần tập trung, khẩn trương thực hiện như sau.

ĐBQH Nguyễn Thiện Nhân (TP. Hồ Chí Minh) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Một là, tổng kết sâu sắc việc phòng, chống dịch Covid-19 hai năm qua để thực hiện đồng bộ, hiệu quả, kiểm soát tốt hơn nữa. Đối với TP. Hồ Chí Minh cần đưa số người nhiễm bình quân 1 ngày từ mức khoảng 1.000 xuống dưới 500 người, phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.

Hai là, cần hỗ trợ cho 430.000 người đã nhiễm covid-19 và gia đình của hơn 16.600 người đã mất vì Covid-19 để họ có điều kiện phục hồi sức khỏe và điều kiện sống và làm việc.

Ba là, hỗ trợ để thu hút trở lại 300.000 lao động đã trở về quê hoặc bổ sung đáp ứng nhu cầu lao động của thành phố.

Bốn là, hỗ trợ các doanh nghiệp để khôi phục nhanh chóng sản xuất kinh doanh.

Theo đại biểu, mặc dù thành phố năm nay dự kiến tăng trưởng âm 5% song các tiền đề vật chất, tinh thần quan trọng nhất của nền kinh tế thành phố, nơi đóng góp 23% GDP, 27% thu ngân sách vẫn còn nguyên vẹn.Thiết bị công nghệ, máy móc của 288.000 doanh nghiệp vẫn còn nguyên, các lãnh đạo các doanh nghiệp, cán bộ kỹ thuật và hơn 90% lao động vẫn còn nguyên. Hệ thống đường giao thông, cung cấp điện, nước, các hợp đồng kinh tế, quan hệ kinh tế cơ bản còn nguyên, quan hệ với các địa phương Trung ương tốt hơn, ý chí vươn lên mạnh mẽ hơn.

Vậy, doanh nghiệp còn thiếu gì để khôi phục lúc này? Theo đại biểu, sau gần 4 tháng ngưng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không có thu nhập, không có tiền mua nguyên liệu, vật tư cho giai đoạn sản xuất sắp tới, không có tiền để trả lương cho người lao động khi chưa tiêu thụ sản phẩm, không có tiền để trả tiền điện, tiền nước, trả chi phí vận tải…

Nêu thực trạng này, đại biểu cũng nhấn mạnh, đoàn tàu kinh tế TP. Hồ Chí Minh còn nguyên đầu tàu và các toa tàu đường ray, trưởng tàu, lái tàu, trưởng toa và 92 % nhân viên các toa tàu, 8 % thì đã về quê. Như vậy, cần kinh phí để có thể mua dầu thi đoàn tàu sẽ chạy trở lại khi tàu trở lại bán được vé, có tiền trả nợ vay. 288.000 doanh nghiệp thành phố và 400.000 hộ kinh doanh cần bao nhiêu tiền hỗ trợ? Thành phố tuy có số lượng doanh nghiệp lớn nhất cả nước bình quân chủ yếu vẫn là doanh nghiệp nhỏ, vốn sản xuất kinh doanh một doanh nghiệp là 41 tỉ, số lao động là 14 người, doanh thu 1 năm là 27 tỷ và thuế 1 năm 830 triệu. Dự báo khoảng 20 % doanh nghiệp có thể tự khởi động lại, không cần hỗ trợ. 80% cần hỗ trợ nhà nước để có đủ vốn lưu động với mức bình quân cho vay khoảng 5 tỷ/doanh nghiệp, 25 triệu/hộ kinh doanh cá thể. Tổng mức vay 440.000 tỷ thì có thể khởi động lại hầu hết cho doanh nghiệp này.

Việc hỗ trợ để vay được 940.000 tỷ đồng thông qua việc giảm 3% lãi suất vay thì tốn khoảng 28.200 tỷ đồng, nếu so với số thuế mà các doanh nghiệp này đóng góp hàng năm 277.000 tỷ thì gấp 9,8 lần số tiền chúng ta hỗ trợ.

Do đó, đại biểu kiến nghị nên dành khoảng 4% GDP để hỗ trợ các doanh nghiệp. Hiện nay, chúng ta đã chi hơn 100.000 tỷ đồng, dự kiến còn 100.000 tỷ đồng, thiếu 100.000 tỷ đồng. Theo đại biểu, số tiền này có thể có sẵn đó là số tiền trong đầu tư công mà chúng ta chưa dùng hết do điều kiện không cho phép để thực hiện. Từ phân tích này, đại biểu kiến nghị Quốc hội cho phép chuyển 100.000 tỷ đầu tư công không chi hết năm nay sang để hỗ trợ các doanh nghiệp và phòng, chống dịch. Điều này, sẽ giúp các doanh nghiệp "tăng tốc" trong thời gian tới. 

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang tại phiên họp
Ảnh: Quang Khánh

 

15:28

Thành phố Hồ Chí Minh : Vẫn có nhiều tiềm năng và cơ hội để phát triển tăng tốc

Phát biểu về kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2022, ĐBQH Trần Hoàng Ngân (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, hai năm qua, dịch Covid - 19 đã tác động nghiêm trọng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của nước ta. Tình hình dịch bệnh hiện nay vẫn còn đang diễn biến phức tạp, rất đáng quan ngại, tuy nhiên, nhìn về tương lai có thể thấy Việt Nam vẫn có nhiều tiềm năng và cơ hội để phát triển cao và tăng tốc.

Theo đại biểu, quá trình đổi mới, cơ cấu lại nền kinh tế đã giúp nước ta có được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Vì thế uy tín Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. Các thị trường lớn về xuất khẩu của Việt Nam như Mỹ và châu Âu hiện nay đang phục hồi rất mạnh. Nước ta đã ký kết nhiều hiệp định thương mại FTA và đã có 14 FTA đã có hiệu lực, mở ra nhiều cơ hội phát triển.

ĐBQH Trần Hoàng Ngân (TP. Hồ Chí Minh) phát biểu tại điểm cầu TP. Hồ Chí Minh

Đồng tình với 16 chỉ tiêu của kế hoạch kinh tế - xã hội trong năm 2002 và 12 giải pháp quan trọng mà Thủ tướng Chính phủ đã trình bày trước Quốc hội, tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu nêu trên, đại biểu cho rằng, trước tiên là kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Theo đó, Chính phủ cần quan tâm thêm vấn đề tự chủ vaccine, tạo điều kiện chủ động nguồn vaccine để cung cấp và bảo đảm an toàn sức khỏe của nhân dân. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác dự báo vì đây được coi là yếu tố rất quan trọng, giúp có thể xây dựng các kịch bản phòng thủ từ xa, tránh bị động như biến thể Delta thời gian vừa qua và chú ý thêm về nguồn thuốc điều trị Covid-19.

Nhóm giải pháp thứ hai, cần tăng cường quản lý, kiểm soát giá cả, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, lũng đoạn giá, làm cho lạm phát cao tăng trở lại vì nếu để lạm phát cao sẽ phá vỡ việc thực hiện các kế hoạch phát triển của Việt Nam.

Nhóm giải pháp thứ ba, tập trung giải ngân đầu tư công theo đúng kế hoạch và hiệu quả. Năm 2021, kế hoạch đầu tư công là 477.300 tỷ đồng nhưng đến nay chỉ mới giải ngân được 65%, còn trên 160.000 tỷ đồng cần tập trung giải ngân để tạo đà phát triển cho giai đoạn tới. Năm 2022, kế hoạch đầu tư công lên đến 526.100 tỷ đồng. Theo đại biểu, đây vừa là cơ hội, vừa là thử thách lớn. Nếu cần tăng đầu tư công lên nữa thì cần phải chú ý đến yếu tố giải ngân và xem xét ưu tiên đầu tư các khu vực trọng tâm, trọng điểm có tính lan tỏa để góp phần tăng nguồn thu ngân sách trong giai đoạn tới. Bởi hiện nay, tuy nợ công có giảm nhưng nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ đã lên đến 24,8% so với mức trần là 25%.

Nhóm giải pháp cuối cùng, để nền kinh tế nước ta tăng trưởng từ 6 - 6,5% cần phải huy động được vốn đầu tư xã hội trên 3 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn nhân dân là gần 2 triệu tỷ đồng. Muốn vậy, cần phải có gói hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp và có thể hỗ trợ từ 2 - 3% cho khoản dư nợ từ 1 - 2 triệu tỷ đồng và nếu chúng ta hỗ trợ trong 2 năm, cần nguồn lực là 40 - 60 nghìn tỷ đồng. Khoản này có thể lấy từ nguồn vốn đầu tư công chưa phân bổ, đại biểu Trần Hoàng Ngân kiến nghị. 

15:50

Sử dụng đầu tư công như công cụ kích thích tổng cầu

Tiếp tục phiên thảo luận toàn thể của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội và phòng, chống dịch Covid-19 chiều nay, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Dương) nhấn mạnh, lộ trình mở cửa kinh tế bên trong và bên ngoài chính là kim chỉ nam cho doanh nghiệp; Nhà nước cần tạo thuận lợi tốt nhất để doanh nghiệp tự phục hồi, người dân tìm lại sinh kế.

Với diễn biến phức tạp của dịch Covid -19 như hiện nay, việc quyết định các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 không thể tách rời với các giải pháp phòng, chống dịch, nhất là lộ trình mở cửa nền kinh tế và quy mô, hiệu quả các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, các gói an sinh xã hội. Nhấn mạnh điều này, đại biểu đề nghị, trước mắt, từ nay đến hết năm 2021, cần triển khai Nghị quyết 128 của Chính phủ một cách đồng bộ, quyết liệt trên phạm vi cả nước; xử lý triệt để những điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng quốc gia, mạng lưới logistics; tạo thuận lợi tốt nhất để doanh nghiệp tự phục hồi, người dân tìm lại sinh kế. Cần đưa ra lộ trình mở cửa các hoạt động kinh tế nhất quán với quan điểm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid - 19. “Lộ trình mở cửa kinh tế bên trong và bên ngoài chính là kim chỉ nam cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch phục hồi các hoạt động sản xuất, kinh doanh”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Dương) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Đại biểu cũng đề nghị cần phát huy sự điều chỉnh tự nhiên của thị trường thông qua việc tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục hành chính do sự chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu nhất quán giữa các quy định liên quan đến việc triển khai các dự án đầu tư công, nhất là đầu tư tư nhân. Chúng ta cần những gói hỗ trợ tài chính, tín dụng cho những doanh nghiệp, các hợp tác xã, những hộ sản xuất kinh doanh đang khó khăn về tài chính, nhưng giải pháp căn cơ để thu hút nguồn lực đầu tư phát triển, giúp doanh nghiệp phục hồi và tái cơ cấu vẫn phải là: cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khai thông mọi điểm nghẽn về thủ tục hành chính.

Về việc xem xét tăng mức bội chi ngân sách trong 2 năm 2022-2023 cao hơn mức 4% GDP như Chính phủ trình trong kế hoạch 2022, đại biểu cho biết, kinh nghiệm giai đoạn 2011-2015 cho thấy, để phục hồi kinh tế sau khủng khoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, chúng ta đã sử dụng công cụ đầu tư công để kích thích tổng cầu bằng cách tăng bội chi ngân sách thông qua phát hành trái phiếu tài trợ. Do đó, đại biểu đề nghị cần sử dụng đầu tư công như công cụ kích thích tổng cầu, làm “vốn mồi” để thu hút đầu tư xã hội. Cần  rà soát lại danh mục đầu tư công trung hạn theo hướng ưu tiên đầu tư cho kết cầu hạ tầng giao thông, kết nối mạng lưới logistics và liên kết vùng, xây dựng hạ tầng số và tăng vốn đối ứng để thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công tư. “Hiện nay, tuy chúng ta lo lắng về trần nợ công và tỷ lệ nợ đến hạn phải trả so với tổng thu ngân sách hằng năm, nhưng dù sao dư địa của chính sách tài khóa vẫn còn rộng hơn so với chính sách tiền tệ khi phải linh hoạt ứng phó với áp lực tăng nợ xấu và kiểm soát lạm phát”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nêu quan điểm.

Đối với các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, Chính phủ đề nghị tốc độ tăng GDP khoảng 6-6,5% so với năm 2021, đại biểu cho rằng, dường như Chính phủ chưa dự báo hết tình hình dịch Covid - 19 trong năm tới và khả năng phục hồi của các địa bàn kinh tế trọng điểm bị ảnh hưởng nặng nề hiện nay. Đồng tình với chỉ tiêu GDP như Chính phủ dự tính để có những cân đối vĩ mô thích hợp, nhưng đại biểu cũng đề nghị, cần có những tính toán mang tính đột phá hơn, “không thể làm như cách cũ trong giai đoạn mới”.

Dịch Covid-19, tuy gây ra những hậu quả nặng nề, nhưng thực tiễn cũng chỉ cho chúng ta những cơ hội để không chỉ phục hồi kinh tế, mà hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Do đó, cần có chính sách và giải pháp tạo động lực đủ mạnh cho doanh nghiệp tái cơ cấu và chuyển đổi số, tận dụng những ưu đãi của các hiệp định FTA song phương và đa phương, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế trong quan hệ kinh tế toàn cầu, tạo mối quan hệ gắn kết giữa khu vực kinh tế trong nước và đầu tư nước ngoài. Đại biểu đề nghị, Chính phủ sớm xây dựng và trình quốc hội ban hành Chương trình  quốc gia trung hạn phục hồi kinh tế trong 2 năm 2022 - 2023, nhằm khắc phục những tổn thất về kinh tế trong 2 năm 2020 - 2021 và tạo tiền đề cho phát triển bền vững trong các năm sau; gắn nội dung của chương trình này với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022.

16:12

Rủi ro rất lớn cho an ninh tài chính quốc gia

Tranh luận về đề xuất tăng trần nợ công lên 50 - 52% GDP, ĐBQH Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu) cho rằng, mức tăng này sẽ khiến dư nợ công đến năm 2025 tăng gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ, tạo ra rủi ro rất lớn cho an ninh tài chính quốc gia. Lý do là bởi: 

ĐBQH Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu)
Ảnh: Quang Khánh

Thứ nhất, nhìn vào nợ công của năm 2021 và đang chuẩn bị cho năm 2022, dư nợ công vào khoảng 44% GDP. Nhìn tỷ lệ thì thấp nhưng là do năm 2021 đã điều chỉnh GDP tăng hơn 1 triệu tỷ đồng, tương đương với mức tăng 25%. Như vậy, mẫu số tăng lên, số dư nợ tuyệt đối không giảm, mức độ tăng nợ vẫn còn. Do đó cần hết sức quan tâm vì đến năm 2021, mức trả nợ lãi và gốc đã xấp xỉ mức 25%, có nghĩa là cứ 4 đồng chi tiêu thì sẽ có 1 đồng cho chi cho trả nợ.

Thứ hai, thời gian qua nợ công tăng đều và liên tục qua các năm. Trong giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng nợ bình quân là 18,1%/năm. Nhận thức được điều đó, đến giai đoạn 2016 – 2020, Quốc hội, Chính phủ đặt ra mục tiêu ưu tiên kiểm soát nợ công để bảo đảm an ninh tài chính và cân đối vĩ mô. Cho nên, tốc độ tăng nợ công được rút xuống còn trên 6,54 % và trong kế hoạch tài chính 5 năm hiện nay đã xác định tăng khoảng 11%.

"Nếu tăng trần nợ công lên đến 51% vào năm 2025 thì dư nợ công lúc đó khoảng 6,5 triệu tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ. Do đó, phải hết sức thận trọng", đại biểu Nguyễn Hữu Toàn nhấn mạnh. 

16:23

Tạo thêm nguồn lực cho công tác phòng chống dịch

Theo ĐBQH Nguyễn Quốc Luận (Yên Bái), để tạo thêm nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, cần cho phép các địa phương được sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư. Riêng với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, hưởng trợ cấp lớn từ ngân sách Trung ương, đại biểu cho rằng Chính phủ, Bộ Tài chính cần sớm tổng hợp, hỗ trợ kinh phí để các địa phương có nguồn lực bảo đảm phòng chống dịch kịp thời, hiệu quả.

Về các giải pháp phục hồi, phát triển kinh tế, đại biểu đề nghị Chính phủ hết sức quan tâm đến việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Hiện nay, rất nhiều hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất ra hầu như không xuất khẩu được do chưa mở cửa lại thị trường, chưa mở cửa cho khách hàng, chuyên gia quốc tế nhập cảnh vào Việt Nam để thực hiện giao dịch; chưa tìm kiếm các đầu ra một cách đa dạng cho thị trường hàng hóa. Trên thực tế có nhiều mặt hàng khách hàng quốc tế phải vào xem trực tiếp rồi mới ký hợp đồng mua bán như mặt hàng đá trắng của Yên Bái hiện nay xuất khẩu sang rất nhiều các quốc gia, nhưng muốn bán được phải cho khách hàng nhập cảnh, giao dịch nên dẫn đến hàng tồn kho rất nhiều. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm tháo gỡ cho xuất khẩu, sớm có giải pháp để cho các chuyên gia, các khách hàng quốc tế nhập cảnh vào trong nước thực hiện kết nối, giao dịch...

ĐBQH Nguyễn Quốc Luận (Yên Bái) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Theo đại biểu, trong năm 2022, cần tập trung vào hai giải pháp. Đầu tiên là thúc đẩy chuyển đổi số, Chính phủ xem xét, sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý cho chuyển đổi số bao gồm cả chuyển đổi số trong khu vực doanh nghiệp và trong khu vực hành chính sự nghiệp. Trong các giải pháp về chuyển đổi số cũng cần tính toán bố trí nguồn lực phù hợp. Thực tế nếu như có công cụ số, công nghệ thông tin, có nền tảng cơ sở dữ liệu đã được chuẩn hóa và số hóa sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cho các địa phương cũng như cho Chính phủ trong công tác phòng chống dịch bệnh cũng như điều hành phát triển kinh tế - xã hội.

Về thúc đẩy phát triển liên kết vùng, đại biểu đồng tình với nhóm giải pháp đã nêu trong báo cáo của Chính phủ. Tuy nhiên, theo đại biểu vấn đề khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu cơ chế quản lý, kiểm soát phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và mô hình tổ chức quản lý, điều phối phát triển vùng. Giai đoạn trước đây chúng ta cũng đã có những đồ án quy hoạch vùng như trong lĩnh vực xây dựng có đồ án quy hoạch xây dựng vùng, có các Ban Chỉ đạo thực hiện các quy hoạch vùng nhưng hiệu quả còn rất khiêm tốn, dẫn đến có tình trạng trong vùng có quy hoạch vùng nhưng phát triển cát cứ, mạnh địa phương nào địa phương đó phát triển không có sự tương hỗ, chia sẻ lẫn nhau, phát triển thiếu liên kết vùng. Do vậy, để phát triển liên kết vùng cần phải có quy hoạch và các cơ chế, chính sách về quản lý, kiểm soát phát triển vùng cũng như mô hình cơ quan quản lý với sự tham gia của các địa phương thì mới có thể thực hiện có hiệu quả.

16:25

Cần có căn cứ khoa học khi đưa ra các chỉ tiêu

Đánh giá về kinh tế - xã hội, ĐBQH Tạ Văn Hạ (Quảng Nam) cho rằng, đại dịch Covid-19 xảy ra trong phạm vi toàn cầu, tạo nên cuộc khủng hoảng đa chiều, tác động tiêu cực tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đại dịch đã làm thay đổi toàn diện cấu trúc của xã hội, nhiều hình thái kinh tế - xã hội mới đã xuất hiện. Tuy nhiên, trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2022 mới chỉ căn cứ chủ yếu vào kết quả triển khai thực hiện kế hoạch năm 2021 và kết quả kinh nghiệm phòng, chống dịch Covid-19 lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba và đặc biệt là lần thứ tư, theo đại biểu như vậy là chưa đầy đủ.

Để có cơ sở Quốc hội quyết định thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, theo đại biểu cần phải có báo cáo tổng hợp với số liệu, thông tin được phân tích, đánh giá các tác động tiềm ẩn của đại dịch Covid-19 một cách khoa học với các dự báo trong ngắn hạn và trong dài hạn. Từ đó xây dựng nhiều kịch bản phục hồi phát triển kinh tế - xã hội tương ứng với từng tình huống, diễn biến của dịch bệnh để không phải bị động, bất ngờ trong điều kiện bình thường mới thay vì như nhận định hiện nay là dịch Covid-19 còn có thể kéo dài và diễn biến phức tạp. Bởi theo đại biểu, nhận định này mang tính định tính mà chưa có cơ sở, căn cứ khoa học. Dẫn chứng, trước đây khi thảo luận về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, nhiều đại biểu Quốc hội Khóa XIV rất băn khoăn với chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GDP năm 2021 là 6%, cho rằng như vậy là quá cao. Đến nay, kết quả dự kiến thực hiện sẽ đạt từ 3 - 3,5%, năm 2022 chúng ta lại đặt ra chỉ tiêu là 6 – 6,5%. Vậy cơ sở nào, căn cứ nào để chúng ta đưa ra những chỉ tiêu này? - đại biểu đặt vấn đề.

16:31

Phải có sự đầu tư, nghiên cứu cho giáo dục

Đề cập đến vấn đề dạy và học trong bối cảnh dịch Covid-19, ĐBQH Nguyễn Thị Mai Hoa (Đồng Tháp) cho biết, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo và các địa phương đã có nhiều giải pháp để hoạt động dạy học không bị đứt quãng và tổ chức linh hoạt các phương thức dạy học, nhất là phải học trực tuyến. Các cơ sở giáo dục, cùng đội ngũ các thầy cô giáo cũng đã cố gắng nỗ lực rất nhiều để thiết kế bài dạy, tổ chức học trực tuyến và quản lý việc học của học sinh. Vừa qua, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục có tổ chức một số phiên làm việc với TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh các tỉnh Nghệ An, Bình Dương, Bến Tre. Qua các cuộc làm việc cho thấy, dù ngành giáo dục các địa phương đã cố gắng rất nhiều nhưng chất lượng giáo dục là khó bảo đảm. Hoạt động các cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng nặng nề, nhất là hệ thống các trường tư thục ở các thành phố lớn, các địa phương có khu công nghiệp. Dự báo, nhiều cơ sở chăm sóc ngoài công lập đang có nguy cơ ngừng hoạt động, nhất là các cơ sở giáo mầm non vì không thể dạy học trực tuyến. Kèm theo đó là các giáo viên mầm non ngoài công lập mất việc phải chuyển đổi nghề để có thu nhập và khi đã có thu nhập khác thì việc kéo họ quay trở về nghề rất là khó. Thực tế trên cho thấy nguy cơ thiếu trường học, điểm, nhóm giữ trẻ, thiếu giáo viên mầm non là điều có thể xảy ra cho đối với nhiều địa phương trong thời gian tới.

ĐBQH Nguyễn Thị Mai Hoa (Đồng Tháp) phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Đại biểu đề nghị Chính phủ và các địa phương cần rà soát, đánh giá đúng thực trạng và nghiên cứu chính sách hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập khôi phục hoạt động, nhất là các cơ sở mầm non, tư thực…Đồng thời, nghiên cứu chính sách tiền lương hợp lý cho nhà giáo, nhất là giáo viên mầm non. Ngoài ra, hệ quả để lại rất nặng nề, trong đó có vấn đề sức khỏe tâm thần cho giáo viên và có một bộ phận học sinh là con em của các gia đình nghèo, những gia đình di cư có thể bị thất học. Đây là vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới.

“Thiết nghĩ đầu tư cho kinh tế ta sẽ có phép cộng trong tăng trưởng nhưng đầu tư thỏa đáng cho giáo dục đào tạo để có một nguồn nhân lực chất lượng cao thì sự tăng trưởng sẽ tăng nhanh và thế hệ trẻ này chính là thế hệ thực hiện kế hoạch của chúng ta cho đến năm 2030-2045. Do đó, phải có sự đầu tư, nghiên cứu cho giáo dục”, đại biểu nhấn mạnh.

16:40

Nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các tình huống khẩn cấp

Nhấn mạnh sự thận trọng trong việc xác định mục tiêu, kế hoạch và giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, ĐBQH Lê Minh Nam (Hậu Giang) chia sẻ, thận trọng không phải là tự ti hay phức tạp hóa vấn đề mà là để giúp chúng ta có đủ sự tự tin, có được sự yên tâm cần thiết khi triển khai các giải pháp. Nhìn thẳng vào khó khăn, dự báo và nỗ lực xử lý những khó khăn cũng là một cách để hiểu rõ thêm và chung tay chia sẻ với Chính phủ, các cơ quan, đơn vị trong thực hiện các kế hoạch cụ thể.

Ảnh: Quang Khánh
ĐBQH Lê Minh Nam (Hậu Giang)
Ảnh: Quang Khánh

Phân tích cụ thể kế hoạch thu chi ngân sách nhà nước năm 2022 hiện đang dự kiến cao hơn năm 2021, đại biểu cho biết, vừa qua một số trung tâm kinh tế, công nghiệp quan trọng có đóng góp nguồn thu ngân sách nhà nước lớn đã phải chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 dẫn tới việc đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất thương mại, mất thị trường, thiếu hụt cục bộ nguồn nhân lực, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sản xuất kinh doanh và thu nộp ngân sách nhà nước. Để khôi phục trạng thái ban đầu cũng cần có thời gian và lộ trình hàn gắn ngắn nhất định.

Bên cạnh đó, kinh tế thế giới được dự báo sẽ phục hồi nhưng không đồng đều, tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng không chỉ đến thị trường tiêu thụ mà cả thị trường các yếu tố đầu vào. Những khó khăn này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước cả khâu xuất nhập khẩu cũng như thu nội địa. Vì vậy, để quản trị tăng thu, bên cạnh các giải pháp cụ thể như xây dựng chính sách nuôi dưỡng, kích thích tăng trưởng nguồn thu, tháo gỡ vướng mắc bất cập, cải thiện công tác quản lý thu, đôn đốc truy thu, chống chuyển giá, trốn thuế, gian lận thương mại. Đại biểu Lê Minh Nam cho rằng, Chính phủ cần dự kiến phương án dự phòng để điều chỉnh cơ cấu, quy mô, huy động nguồn thu trong những tình huống phát sinh không mong đợi.

Tương tự, đối với dự toán chi ngân sách nhà nước trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nguồn thu hạn chế nên rất cần đánh giá dự toán chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên để đảm bảo dự toán thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, đảm bảo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường giải ngân vốn đầu tư công. Đồng thời, xem xét những công trình, nội dung chi không cần thiết thì cắt giảm. Xếp thứ tự ưu tiên tổ chức thực hiện những nhiệm vụ cấp bách. “Trường hợp khó khăn chúng ta phải chấp nhận cắt giảm mà chưa thực hiện những nhiệm vụ xếp thứ tự ưu tiên sau”, ông nói.

Đối với hệ thống các doanh nghiệp vừa trải qua thử thách đau đớn bởi sàng lọc tự nhiên sau đại dịch, tuy nhiên, theo đại biểu, qua đó chúng ta cũng có cơ hội nhìn lại để cơ cấu, sắp xếp lại lĩnh vực, loại hình, quy mô của hệ thống doanh nghiệp, xương sống của nền kinh tế nhằm tạo lập nguồn thu ngân sách nhà nước một cách tích cực, đúng quy luật và bền vững. Theo đó, ông đề nghị cần tập trung đánh giá kỹ thực trạng, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để định hướng đầu tư, thiết lập cơ chế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp theo cơ cấu chọn lọc hợp lý, hiệu quả, bền vững gắn với lợi thế của Việt Nam. Chúng ta cũng cần xác định rõ thế mạnh và ưu thế là gì, cái nào cạnh tranh được, cái gì tự lực, tự cường để có những chính sách hỗ trợ thúc đẩy phát triển. Cụ thể, ngoài tập trung quan tâm đến các doanh nghiệp nhà nước làm nòng cốt, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Chính phủ cần quan tâm, tạo điều kiện phát triển những doanh nghiệp có thế mạnh, có năng lực hoặc nằm trong hệ thống ngành có lợi thế quốc gia hoặc gắn với tiềm năng, tiềm lực của quốc gia. Ví dụ, sản xuất kinh doanh sản phẩm nông, lâm nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, lợi thế địa lý, điều kiện tự nhiên hoặc lợi thế bờ biển. Có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiếp cận với xu hướng phát triển hội nhập đi theo xu thế của thế giới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo để tạo điều kiện sáng tạo gắn với thế mạnh nguồn nhân lực cần cù, thông minh, ham học, giúp các doanh nghiệp phát triển để tăng trưởng cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững và hiệu quả.

Trong tổ chức thực thi các kế hoạch, theo đại biểu, cần quan tâm đến khâu tổ chức thực hiện các cấp thực thi. Kế hoạch tổng thể của Trung ương thể hiện vĩ mô, tầm nhìn nhưng không thể thay thế kế hoạch tổ chức thực hiện cho các cấp thực thi. Về nguyên tắc, các bộ phận trực tiếp thực hiện phải xây dựng kế hoạch chi tiết gắn với thực tiễn, điều kiện, hoàn cảnh, thế mạnh cụ thể của đơn vị mình chứ không nêu chủ trương, nguyên tắc như cấp Trung ương. “Không phải là tất cả nhưng có điều kiện tiếp cận với một số kế hoạch cụ thể, tôi thấy vẫn còn coi trọng đề cập nguyên tắc, chủ trương mà chưa đưa ra nhiều được các mục tiêu, giải pháp lượng hóa cụ thể để bố trí nguồn lực thực hiện cũng như làm tiêu chí đánh giá kết quả. Nếu rập khuôn, thiếu linh hoạt, thiếu sáng tạo sẽ khó phát huy lợi thế, tiềm năng của từng cơ quan, đơn vị, địa phương để tập hợp sức mạnh đóng góp cho mục tiêu chung. Chính phủ cần quan tâm thêm đến khía cạnh này để kiểm soát, chấn chỉnh và khắc phục”, đại biểu Lê Minh Nam nhấn mạnh.

16:44

Đã đến lúc chuyển đổi từ tư liệu sản xuất sang quan hệ sản xuất

Chia sẻ về tầm quan trọng của nông nghiệp, ĐBQH  Bế Trung Anh (Trà Vinh) cho biết, 60% dân số nước ta là nông dân, nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế trong mọi biến cố. Và cứ 35 năm lại có một sự thay đổi mới trong nền nông nghiệp. Năm 1954, hòa bình lập lại, kinh tế hợp tác xã ra đời, mục tiêu quan trọng nhất là đoàn kết, là kỷ luật, là ý chí tập thể để thống nhất đất nước. 35 năm sau, năm 1988 chúng ta có “Khoán 10” chuyển từ khoán việc sang khoán sản phẩm. Bản chất của hình thái này là tư nhân hóa tư liệu sản xuất. Từ nước thiếu đói, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hàng đầu về lúa gạo. Và 35 năm sau nữa, nền nông nghiệp của chúng ta đã phát triển để có những thành quả đáng tự hào như hôm nay.

Ảnh: Quang Khánh
ĐBQH Bế Trung Anh (Trà Vinh) phát biểu
Ảnh: Quang Khánh

“Nhưng còn đó vấn đề, liệu chúng ta sẽ duy trì một nền nông nghiệp nói đến sản phẩm chỉ là sản phẩm mà không quan tâm đến chất lượng của nó?”, đại biểu đặt vấn đề.

Mô hình hiện nay, người nông dân đóng một lúc nhiều vai trò, họ lo sản xuất, lo thị trường, lo bán hàng và cả một chuỗi các hoạt động đầu cuối. Họ tự điều tiết để đầu tư tối thiểu, lợi nhuận tối đa. Điều này tất yếu dẫn đến đã có nông dân trồng hai luống rau, luống để ăn và một luống để bán. 

Kinh tế hội nhập buộc ta phải có tính chuyên nghiệp cao và do vậy, một gợi ý về một thuật ngữ mới là “công nhân nông nghiệp” để chỉ một lực lượng lao động sản xuất trong mô hình kinh tế nông nghiệp mới, một trụ đỡ mới. Công nhân nông nghiệp tham gia một mắt xích cụ thể trong một chuỗi dịch vụ nông nghiệp một cách chuyên nghiệp, họ hưởng lương và thậm chí là họ còn thích hưởng lương hơn lao động tự cung, tự cấp. Mô hình này cũng giảm rủi ro cho lao động và phù hợp với định hướng “ly nông, không ly hương”, tức là đã đến lúc chuyển đổi từ tư liệu sản xuất sang quan hệ sản xuất.

“Chúng ta cần có chính sách cụ thể để thúc đẩy sự đổi mới này, vì tôi đã thấy có những mô hình như vậy thành công”, đại biểu Bế Trung Anh nhấn mạnh.

16:50

Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển

ĐBQH Nguyễn Văn Thân (Thái Bình) cho rằng, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta chiếm tỷ lệ 98% trên tổng số 800.000 doanh nghiệp, để tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp này phát triển, thời gian tới, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành cần tiếp tục có kế hoạch giãn, giảm thuế cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong năm 2021, thậm chí đến năm 2022. Bởi vì, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang bị ảnh hưởng rất nặng nề và càng ngày càng sâu, rộng, nguy cơ đóng cửa là rất lớn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần được ưu tiên tham gia vào khoảng 30% các dự án đầu tư công, kể cả các gói đầu tư lớn hay nhỏ.

Ngoài ra, đại biểu cũng đề nghị Chính phủ trình Quốc hội phát hành trái phiếu để bù đắp các khoản hụt thu và tăng cường đầu tư công. Cho phép cấp bù lãi suất cho các ngân hàng để hỗ trợ lãi suất cho các lĩnh vực cần khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Về chính sách tiền tệ, tín dụng, cần tiếp tục cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ thời gian kéo dài tới năm 2022. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, trích lập đầy đủ các khoản nợ tiềm ẩn gồm cả dư nợ được cơ cấu và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01 năm 2020 của Ngân hàng Nhà nước. Hiện nay, các tổ chức quốc tế đang đánh giá cao Việt Nam là một điểm đến, một điểm đầu tư đầu tư kinh doanh khá hấp dẫn. Vì vậy, trong giai đoạn tiếp theo cần có chính sách phù hợp để giữ được các nhà đầu tư FDI và tăng cường kêu gọi đầu tư...

16:54

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên giải trình, làm rõ một số vấn đề ĐBQH nêu

Bộ trường Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên phát biểu

Ảnh: Lâm Hiển 

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên cho biết, trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do đại dịch Covid-19 nhưng 10 tháng qua, sản xuất công nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng 3,3 %, cao hơn mức 2,7 % của cùng kỳ năm trước, là động lực chính góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Xuất khẩu tiếp tục đạt mức xuất siêu là điểm sáng với mức tăng rất cao, 17,3% so với cùng kỳ. Nhập khẩu từng bước giảm nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu. Ngành đã cùng các địa phương cơ bản cung ứng kịp thời, đầy đủ hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, điện năng phục vụ sản xuất và đời sống người dân. Ổn định giá cả hàng hóa, khai thác các hình thức thương mại, các loại thị trường, góp phần tiêu thụ hàng triệu tấn nông sản tới vụ cho nông dân trong hoàn cảnh giãn cách xã hội. Bộ Công thương cũng đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trong nước và các Bộ, ngành, đối tác nước ngoài xử lý kịp thời các vướng mắc trong lưu thông hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, giải tỏa kịp thời những ách tắc tại các cửa khẩu, bến cảng nhằm duy trì các hoạt động xuất nhập khẩu. Nhờ đó, các doanh nghiệp có điều kiện khai thác, phát huy lợi thế của các Hiệp định thương mại tự do, duy trì thành quả xuất siêu.

Theo Bộ trưởng, ngành cũng có nhiều đề xuất hợp lý, phát huy tác dụng tốt trong việc cùng các địa phương chỉ đạo, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh cả trong và ngoài vùng dịch. Đề xuất tiêu chí, điều kiện và quy trình mở lại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa trong điều kiện bình thường mới. Ưu tiên tiêm vaccine cho người lao động tại chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và các khu, cụm công việc trong phạm vi cả nước. Kịp thời đề xuất Chính phủ 5 lần giảm giá điện cho các đối tượng ưu tiên với tổng số tiền lên tới gần 17.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, ngành Công thương thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế như báo cáo của Chính phủ đã nêu tại buổi thảo luận kinh tế xã hội gần hai ngày qua, đại biểu Quốc hội và cử tri tiếp tục thể hiện sự quan tâm đến hai nhóm vấn đề chủ yếu liên quan đến ngành đó là lĩnh vực điện năng và vấn đề bình ổn thị trường phân bón, vật tư nông nghiệp. Bộ trưởng Bộ Công thương làm rõ như sau.

Thứ nhất, thực hiện Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Chính phủ thời gian qua, Bộ Công thương đã tập trung tham mưu cho cấp có thẩm quyền chỉ đạo xây dựng quy hoạch điện VIII với những nguyên tắc cơ bản là bảo đảm cân đối cung cầu vùng miền, cơ cấu nguồn điện, cơ cấu nguồn và truyền tải, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư phát triển điện. Đặc biệt chú trọng xây dựng thị trường phát điện và thị trường bán buôn điện cạnh tranh. Theo đó, thị trường phát điện cạnh tranh được ngành triển khai thực hiện từ khá sớm, nhờ vậy, đến nay có gần 70% nguồn điện do tư nhân hoặc công ty cổ phần sản xuất. Thị trường bán buôn điện cạnh tranh cũng được vận hành từ đầu năm 2019 và đến nay EVN không còn là vị duy nhất mua bán điện mà đã có thêm 5 Tổng công ty  trực tiếp tham gia mua bán điện trên thị trường. Bộ đang tích cực phối hợp các cơ quan hữu quan xây dựng đề án chuyển Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vận hành hệ thống điện và thị trường điện, hạch toán độc lập trong EVN theo chỉ đạo của Chính phủ. Bộ đang khẩn trương xây dựng thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, trong đó việc triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa nhà máy điện và khách hàng sử dụng điện chính là bước đầu tiên trong thị trường điện bán lẻ cạnh tranh ở nước ta.

Hiện nay, Bộ đã trình Chính phủ cho phép thí điểm thực hiện cơ chế này từ nay đến năm 2025, đồng thời đã trình Chính phủ và Quốc hội cho sửa một điều của Luật Điện lực để tư nhân có thể đầu tư vào phân khúc truyền tải điện. Trình Chính phủ cơ chế điều hành thực hiện các dự án điện nhằm siết lại kỷ cương trong tổ chức thực hiện quy hoạch và kế hoạch phát triển điện nước ta. Trình Chính phủ cho phép tiếp tục triển khai Chương trình hỗ trợ cấp điện cho nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số và hải đảo. Sau khi được chấp thuận, Bộ sẽ triển khai thực hiện nghiêm túc.

Về đề xuất gia hạn thời gian áp dụng cơ chế chính sách cho dự án điện gió, Bộ Công thương xin được chia sẻ với những khó khăn của các chủ đầu tư và các địa phương có dự án chậm tiến độ. Tuy nhiên, giá FIT là cơ chế giá hỗ trợ của Nhà nước, chỉ được áp dụng trong thời gian nhất định để khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực cần đầu tư, kéo dài thời gian hưởng chính sách giá FIT là không hợp lý bởi không đúng với bản chất có thời hạn của chính sách hỗ trợ, gây bất bình đẳng với các dự án cùng cơ chế nhưng đã thực hiện đúng tiến độ. Hiện nay, giá đầu vào các vật tư, nguyên liệu, thiết bị trong lĩnh vực điện gió giảm hơn so với thời điểm ban hành chính sách và tiếp tục có xu hướng giảm mạnh. Nếu kéo dài thời gian hưởng chính sách này có thể sẽ gây ra hậu quả pháp lý, gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước và các đối tượng sử dụng điện. Ngoài ra, trong quá trình lấy ý kiến các nội dung trên, Bộ Công thương không nhận được sự thống nhất của các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan.

Hiện nay, Bộ Công thương xây dựng dự thảo Quyết định của Chính phủ quy định về phát triển các dự án điện gió, điện mặt trời theo Luật Đầu tư, đối tác công tư, trong đó điểm cốt yếu là cơ chế đấu thầu, đấu giá để lựa chọn nhà đầu tư và xác định giá điện. Theo đó, các nhà đầu tư sẽ đàm phán với EVN trong khung giá do Bộ Công Thương ban hành, các dự án dở dang được xem xét giải quyết trong điều khoản chuyển tiếp của dự thảo Quyết định nêu trên. Đồng thời, Bộ cũng đang khẩn trương xây dựng khung giá điện gió, điện mặt trời làm căn cứ cho nhà đầu tư đàm phán với EVN trong thời gian tới.

Về đề nghị quan tâm đến từ Ninh Thuận và một số địa phương cho khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển các nguồn điện, phát triển năng lượng tái tạo đang được xem là cơ hội khai thác tiềm năng, lợi thế và tăng thu ngân sách cho một số địa phương. Tuy nhiên, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo vẫn có giá thành cao, chưa phù hợp với khả năng thanh toán của các đối tượng sử dụng điện Việt Nam. Ở nước ta hiện nay có một nghịch lý, là những nơi có tiềm năng tốt để phát triển các loại hình điện năng là nơi có phụ tải thấp. Điển hình như Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phụ tải chỉ chiếm khoảng 4 - 10% khả năng cung ứng nguồn, trong khi miền Bắc phụ tải luôn tăng nguồn vẫn chỉ ở ngưỡng thấp so với nhu cầu.

Việc phát triển quá nóng có nguồn điện trong thời gian vừa qua ở một vài địa phương như thế đã khiến cho hệ thống truyền tải điện không thể đáp ứng, không huy động hết công suất của nhà máy hiện có, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Việc xây dựng thêm các đường dây truyền tải cao áp, siêu cao áp kết nối liên vùng khiến chi phí sản xuất tăng cao, làm gia tăng giá thành điện năng. Việc mở rộng quy mô, nâng cấp các dự án nhà máy điện, nhất là thủy điện cũng cần cân nhắc, tính toán thật kỹ, bởi điều đó tùy thuộc rất nhiều và yếu tố khí hậu, kết cấu địa chất và các điều kiện tự nhiên xã hội khác.

Thực hiện chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, thời gian qua Bộ đã phối hợp rất chặt chẽ với tỉnh Ninh Thuận trong phát triển các dự án điện trên địa bàn. Theo đó, về quy hoạch đã bổ sung thêm gần 24% công suất nguồn điện so với trước thời điểm dừng dự án điện hạt nhân, một số đề xuất của tỉnh về phát triển năng lượng tái tạo, Bộ đã và sẽ cân nhắc kỹ lưỡng trong mặt bằng chung của cả nước, trình Chính phủ xem xét, quyết định. Giai đoạn tới, Bộ sẽ tiếp tục đồng hành hỗ trợ tỉnh trở thành một trong những trung tâm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch trong tương lai như Nghị quyết 115 của Chính phủ đề ra.

Thứ hai, về giải pháp bình ổn phân bón và vật tư nông nghiệp, đây là lĩnh vực luôn được Bộ Công thương chú trọng chỉ đạo các đơn vị chức năng theo dõi, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để kịp thời đề xuất áp dụng nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ nông dân sản xuất có lãi, qua đó nâng cao đời sống ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thời gian qua giá phân bón, vật tư nông nghiệp vẫn tăng cao do giá nguyên liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu và chi phí vận tải, logistics, giãn cách xã hội tăng cao. Mặt hàng phân bón không thuộc danh mục chịu thuế VAT nên các nguyên vật liệu đầu vào không được khấu trừ thuế cũng làm tăng giá thành sản phẩm. Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng phân bón của thế giới tăng cao do đứt gãy chuỗi cung ứng.

Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp tốt hơn các Bộ, ngành, địa phương để có các giải pháp hiệu quả hơn trong việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý vi phạm. Đề xuất Quốc hội, Chính phủ xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng để mặt hàng phân bón bổ sung vào danh mục chịu thuế VAT, giúp mặt hàng này có cơ hội giảm giá và nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.

Kết thúc phiên giải trình, Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh, sẽ tiếp thu và có giải pháp khắc phục kịp thời, phù hợp.

17:08

Năng lực của hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng còn thiếu và yếu

Giải trình, làm rõ một số vấn đề ĐBQH nêu, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, các đại biểu Quốc hội đều có chung đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của năm 2021 gặp rất nhiều khó khăn và thách thức, nhất là tác động của đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 lần thứ tư ở nhiều địa phương và đã xâm nhập vào các trung tâm kinh tế, đô thị lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất với diễn biến rất phức tạp và biến thể delta có tốc độ lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn. Do đó đời sống của nhân dân cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, sức chống chịu của doanh nghiệp, người dân nhất là những người có thu nhập thấp đã giảm mạnh.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát biểu

Ảnh: Quang Khánh 

Theo Bộ trưởng, có 4 trên 12 chỉ tiêu không đạt, trong đó có chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng GDP đã phản ánh sát tình hình thực tế của kinh tế - xã hội năm 2021. Trong bối cảnh hết sức khó khăn của quý III năm 2021 như trong báo cáo đã nêu và đạt được kết quả như vậy, Bộ trưởng cho rằng, đó là nhờ lãnh đạo của Đảng, sự đồng hành và ủng hộ của Quốc hội và sự chỉ đạo điều hành linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cùng với đó là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nỗ lực, cố gắng và phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Trung ương, địa phương, nhất là các lực lượng tuyến đầu chống dịch. Bên cạnh đó là tinh thần đoàn kết, đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, hỗ trợ kịp thời của bạn bè quốc tế.

Đến nay, tình hình phòng, chống dịch đã có những chuyển biến tích cực. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 128 vừa qua với phương châm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 là một quyết định đúng đắn, kịp thời và quan trọng, phù hợp với tình hình thực tiễn, tạo ra nền tảng quan trọng để chúng ta phục hồi kinh tế nhanh trong những tháng cuối năm 2021 và tạo nền tảng cho phát triển xã hội năm 2022. Từ công tác phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội vừa qua đã cho chúng ta rất nhiều các bài học quý báu, đặc biệt cho chúng ta thấy những khiếm khuyết cần phải điều chỉnh kịp thời trong tương lai để bảo đảm phát triển an toàn và bền vững hơn.

Từ tình hình thực tế nêu trên, Bộ trưởng nêu ra ba bài học sâu sắc và cần khắc phục trong thời gian tới.

Thứ nhất, năng lực của hệ thống y tế nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng đang còn thiếu và yếu, dẫn tới lúng túng trước những diễn biến nhanh và phức tạp của dịch bệnh và ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người dân và hoạt động kinh tế việc làm.

Thứ hai, năng lực quản trị xã hội, quản lý nhà nước và xử lý tình huống còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến lúng túng, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, cục bộ địa phương làm đứt gãy quá trình lưu thông hàng hóa, chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất và tiêu thụ.

Thứ ba, sức mạnh và vai trò của hệ thống chính trị và người dân rất là rất lớn, do đó, cần phải có sự kết hợp giữa hỗ trợ của trung ương, cộng đồng doanh nghiệp và bạn bè quốc tế.

Cũng theo Bộ trưởng, đến nay, tình hình dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc. Tuy vậy trong giai đoạn đầu mở cửa trở lại của nền kinh tế, số ca nhiễm mới có thể tăng lên, nhất là tại một số địa phương có độ bao phủ vaccine thấp. Trong bối cảnh đó, các bộ, cơ quan, địa phương cần tiếp tục thực hiện nghiêm Nghị quyết 128 của Chính phủ, kiên định và giữ vững lập trường, quan điểm đó là thích ứng an toàn, linh hoạt kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, không e ngại, hoang mang, lo sợ trước diễn biến của dịch bệnh nhưng cũng tuyệt đối không được lơ là chủ quan.

Về đánh giá tác động của Nghị quyết 128, đại biểu cho biết, sau gần một tháng triển khai thực hiện Nghị quyết này, tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 đã có nhiều chuyển biến rất tích cực với nhiều điểm sáng và nhất là đã cũng cố được niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư về xu hướng, khả năng phục hồi của nền kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh, di chuyển của người dân, người lao động đang dần trở lại trạng thái bình thường mới.

Về vấn đề giải ngân vốn đầu tư công năm 2021, việc chậm giao kế hoạch vốn theo quy định của Luật Đầu tư công và thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về phân bổ kế hoạch ngân sách Trung ương năm 2021, Bộ trưởng cho biết, Chính phủ đã triển khai giao kế hoạch đầu tư công năm 2021 một lần trước ngày 31.12.2020. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương phải chịu trách nhiệm phân bổ chi tiết kế hoạch vốn của các chương trình dự án cụ thể.

Bộ trưởng cho biết, việc chậm phân bổ vốn và phân bổ kế hoạch đầu tư công tập trung ở hai nội dung chính. Thứ nhất, việc giao kế hoạch vốn của ba chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay trong giai đoạn đang phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật và chưa xong. Chính phủ đang chỉ đạo trong tháng 11, tháng 12 tới phải hoàn thành toàn bộ các thủ tục để có thể giao được vốn và thực hiện được ngay vào đầu năm 2022. Riêng chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc miền núi, trong tuần tới sẽ trình Thủ tướng Chính phủ để xem xét thông qua định mức, tiêu chí, nguyên tắc định mức phân bổ và trên cơ sở đó có thể giao vốn và triển khai được ngay vào đầu tháng 12 năm nay. Hai chương trình còn lại sẽ cố gắng hoàn thành trong tháng 12 để đầu năm 2022 có thể triển khai ngay. Thứ hai, việc phân bổ chi tiết của các bộ, ngành, địa phương cho các dự án cụ thể thì còn một phần vốn chưa thể bổ sung cho các dự án khởi công mới vào năm 2021. Chính phủ cũng đang chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương khẩn trương hoàn thiện thủ tục phê chuẩn quyết định đầu tư theo thẩm quyền, bảo đảm đủ các căn cứ để giao kế hoạch chi tiết theo quy định của Luật Đầu tư công.

"Đối với phần vốn chưa phân bổ, Chính phủ cũng đang chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các thủ tục đầy đủ và sẽ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi phân bổ theo quyết định của Nghị quyết 29 của Quốc hội"- Bộ trưởng cho biết. 

Về chậm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021, Bộ trưởng cho biết, có nguyên nhân tồn tại từ lâu như: chuẩn bị dự án chưa tốt, công tác giải phóng mặt bằng, thời gian điều chỉnh dự án, năng lực của ban quản lý năng lực nhà thầu… Riêng năm 2021 có một số lý do đặc thù như. Thứ nhất, nước ta tổ chức Đại hội Đảng và bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, kiện toàn bộ máy tổ chức nhân sự mới. Đồng thời cũng là năm đầu thực hiện kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2021 – 2025, thực hiện Luật Đầu tư công năm 2019. Do đó, vẫn đang tập trung vào các dự án chuyển tiếp và đang chuẩn bị đầu tư vào các dự án phải năm 2022 mới có thể thực hiện được. Thứ hai, do tác động của Covid-19, giãn cách xã hội dẫn đến ảnh hưởng nhiều tới tiến độ. Thứ ba, do giá cả nguyên vật liệu tăng rất cao.

Liên quan đến việc sửa đổi các luật về đầu tư công cơ bản đã hoàn chỉnh. Còn một vài điểm thì trong thời gian tới được sự cho phép của Quốc hội, Chính phủ đã hoàn thiện dự án Luật sửa đổi 10 Luật, trong đó sẽ giải quyết tất cả những vấn đề đang còn vướng mắc trong Luật Đầu tư công để nhanh phân cấp, phân quyền, đẩy nhanh tiến độ hơn.

Về giải phóng mặt bằng, Chính phủ cũng đang trình một đề án lên Quốc hội trong thời gian tới là tách giải phóng mặt bằng và tái định cư thành một đề án riêng để cho phép thực hiện trước, bảo đảm rút ngắn thời gian, tiến độ thực hiện dự án.

17:12

Các ý kiến thảo luận phong phú, toàn diện, sâu sắc, thể hiện tâm huyết của các ĐBQH

Kết luận 2 ngày thảo luận tại hội trường, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, đã có 120 đại biểu Quốc hội thuộc 57 Đoàn ĐBQH phát biểu, có 2 đại biểu tham gia tranh luận. Các Bộ trưởng 5 bộ đã tham gia phát biểu, giải trình thêm một số vấn đề liên quan.

Nhìn chung, không khí thảo luận sôi nổi, thẳng thắn và trách nhiệm. Các ý kiến thảo luận phong phú, toàn diện, sâu sắc, thể hiện tâm huyết của các đại biểu đối với các vấn đề quan trọng của đất nước và các vấn đề mà đông đảo cử tri quan tâm. Các đại biểu Quốc hội đánh giá cao nỗ lực của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp và ghi nhận đóng góp to lớn của cả dân tộc, kiều bào ta ở nước ngoài, bạn bè quốc tế để kiểm soát dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội và ngăn chặn đà suy giảm kinh tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải kết luận 2 ngày thảo luận tại hội trường

 Ảnh: Quang Khánh

Đa số ý kiến ĐBQH thống nhất với nhiều nội dung trong các báo cáo của Chính phủ và các báo cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội. Các đại biểu đã tập trung phát biểu về nhiệm vụ, giải pháp để phòng chống dịch, đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng, đời sống của Nhân dân và khôi phục kinh tế; nhiều ý kiến các đại biểu đã nêu về cân đối ngân sách, phát triển kinh tế- xã hội trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Nhiều đại biểu đề nghị cần có chương trình phục hồi kinh tế toàn diện, khả thi, với những giải pháp mạnh, đột phá, khắc phục được bất cập của thời gian qua; chương trình cần có kịch bản cụ thể và chia giai đoạn phù hợp để thực hiện.

Nhiều ý kiến đại biểu cũng đề cập đến bất cập hạn chế cần khắc phục, những giải pháp cần triển khai ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tài chính, ngân sách, kiểm soát dịch Covid-19.

Các đại biểu thống nhất với nhiều nội dung trong các báo cáo kinh tế - xã hội, dự toán NSNN và phân bổ NSTƯ; thống nhất lùi thời điểm thực hiện cải cách tiền lương đề dành nguồn lực kiểm soát dịch và khôi phục kinh tế; thống nhất tỷ lệ điều tiết ngân sách chỉ áp dụng riêng cho năm 2022 cho phù hợp với diễn biến phức tạp của thực tế.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra và các cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các ĐBQH, hoàn chỉnh các nghị quyết về ngân sách và kinh tế xã hội gửi ĐBQH cho ý kiến và trình Quốc hội xem xét, thông qua.

ĐBND