Sổ tay:

Chồng chéo và chưa hợp lý 

Xem với cỡ chữ
Thông tin người mua, hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở xã hội là những vấn đề nhận được nhiều ý kiến xung quanh Dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và Nghị định số 49/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (sau đây gọi tắt là dự thảo thông tư).

Khoản 1, Điều 14, dự thảo thông tư quy định: Danh sách các đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà xã hội được cập nhật trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng và Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, Điểm a, Khoản 1, Điều 13 của dự thảo thông tư lại ghi rõ: Đối với trường hợp bán lại nhà ở xã hội đã được mua, thuê mua theo quy định tại Khoản 5, Điều 19 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP cho đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội thì trong đơn đăng ký mua nhà của người mua phải được “Sở Xây dựng địa phương xác nhận vào đơn đăng ký mua nhà về việc người đó chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội”.

Như vậy, yêu cầu phải có xác nhận của Sở Xây dựng địa phương như quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 13 dự thảo thông tư là chưa hợp lý, có thể dẫn đến việc gia tăng thủ tục cho các đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Bởi, dựa vào thông tin được công khai tại các Cổng thông tin của cơ quan quản lý, đối tượng được hưởng chính sách có thể nhận biết được các đối tượng đó đã được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội hay chưa. Trong trường hợp vẫn giữ như trong dự thảo thông tư, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, cần quy định rõ trong thủ tục để có thể có được xác nhận giúp cho người thụ hưởng chính sách biết các giấy tờ, thủ tục cần thiết, vừa tránh hiện tượng nhũng nhiễu.

Liên quan đến nội dung hợp đồng mua bán, thuê... theo quy định tại Khoản 1, Điều 15 dự thảo thông tư thì hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở xã hội phải có các nội dung chính như tên, địa chỉ của các bên; các thông tin về nhà ở giao dịch; giá mua bán, giá cho thuê, giá cho thuê mua; phương thức và thời hạn thanh toán; thời hạn giao nhận nhà ở; bảo hành nhà ở; quyền và nghĩa vụ của các bên; cam kết của các bên; chấm dứt hợp đồng; các thỏa thuận khác; giải quyết tranh chấp; hiệu lực của hợp đồng.

Soi chiếu vào các văn bản chuyên ngành về hợp đồng như Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở thì các nội dung này không có tính đặc thù khác hơn so với các hợp đồng mua bán nhà ở khác; và tại các văn bản này đã quy định rõ, chi tiết. Chính vì lẽ đó, nhiều ý kiến cho rằng, không cần thiết phải quy định tại dự thảo thông tư; trong trường hợp cần thiết các bên có thể tham khảo hợp đồng mẫu kèm theo được quy định tại Khoản 3, Điều 15 dự thảo thông tư. Cụ thể, hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua nhà ở xã hội được áp dụng theo mẫu số 12, số 13 và số 14 tại Phụ lục II ban hành kèm theo thông tư này.

Đình Khoa