Tọa đàm “Tài nguyên nước và vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng nước sạch” 

Xem với cỡ chữ
Với quan điểm “nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước”, Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn, thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước; đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia có chung nguồn nước; khai thác, sử dụng nguồn nước sạch hợp lý nhằm góp phần vào tiến trình phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự gia tăng ngày càng lớn của các hoạt động sử dụng nước, sự tác động của biến đổi khí hậu đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong việc quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước sạch để sử dụng.
Các đại biểu tại buổi tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2025, lượng nước mặt nội sinh bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ đạt 2.830 m3/người/năm, thấp hơn so với mức trung bình của thế giới là 4.000 m3/người/năm. Và nếu không có những chính sách hữu hiệu trong vòng 50 năm nữa, Việt Nam sẽ bị thiếu nước trầm trọng. Tình trạng khô kiệt sẽ diễn ra trên diện rộng, ngày càng nhiều người dân phải sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người sử dụng và kéo theo hàng loạt hệ lụy khác.

Tìm các giải pháp quản lý, sử dụng, khai thác nước sạch theo phương thức tổng hợp và toàn diện, phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức Tọa đàm “Tài nguyên nước và vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng nước sạch”.

Tọa đàm mong muốn nhận được các ý kiến chia sẻ của các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý về những thách thức về Việt Nam đang phải đối mặt về suy giảm nguồn nước, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm quản lý bền vững và hiệu quả các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nước, nâng cao việc chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ nguồn nước, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.

Ảnh: Duy Thông

Khách mời tham gia Tọa đàm có:

- Ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội;

- Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội;

- Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam;

- Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- TS Nguyễn Linh Ngọc, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- TSKH Nghiêm Vũ Khải, Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

(18/10/2021 14:40)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Suy giảm nguồn nước - nguy cơ không thể xem thường

Tình trạng suy kiệt nguồn nước cả trên bề mặt và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người khai thác vào các mục đích kinh tế khác nhau, sử dụng lãng phí, gây ô nhiễm, kiểm soát xả thải ra môi trường chưa được kiểm soát tốt... khiến nguồn nước suy giảm, nước sạch đang ngày càng khan hiếm. 

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, có hơn 70% lượng nước ở các sông trên toàn quốc không thể dùng để ăn uống hay tắm rửa. Tình trạng khan hiếm nước sạch nghiêm trọng xảy ra không chỉ ở các khu vực thành thị như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mà còn khắp các vùng nông thôn ở Tây Nguyên, vùng biển, thậm chí, vùng sông nước như ở đồng bằng sông Cửu Long, do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn. Dự báo của Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng, nếu không giải quyết được tình trạng ô nhiễm này, trong 10 năm tới, Việt Nam không chỉ thiếu nước sạch để sử dụng mà còn phải mua nước với giá cao và mất đến 4% GDP vào năm 2035.

(18/10/2021 14:55)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Nước sạch và vệ sinh môi trường là lĩnh vực luôn được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để ứng phó vơi tình trạng suy giảm nguồn nước, nguy cơ thiếu nước sạch, cần tập trung vào những vấn đề gì, thưa ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường?

Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Trong khoảng 30 năm gần đây, Việt Nam phải đối mặt với vấn đề thiếu nước, với mức bình quân thấp hơn mức bình quân của thế giới, chỉ khoảng 4000m3/người/năm. Thực trạng thiếu nước cũng xảy ra ở nhiều nơi. Các số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nguồn tài nguyên này đang suy giảm và chịu ảnh hưởng bởi bên ngoài rất nhiều, có đến 63% trữ lượng nguồn nước là nước ngoại sinh. Trong khi nhu cầu sử dụng nước trong 30 năm trở lại đây đã tăng lên gấp 3 lần.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Khuyến chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Nguồn nước cũng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Về thời gian, từ tháng 6-9 lượng nước chỉ đủ bảo đảm 20-30%. Về không gian, từ các tỉnh miền Bắc cho tới TP. Hồ Chí Minh, nước chỉ chiếm khoảng 40% nhưng GDP và dân số chiếm tới 80%. Trong khi đó, tài nguyên nước tại đồng bằng sông Cửu Long chiếm tới 60%.

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng nước rất thấp, thất thoát khoảng 25% và các công trình thủy lợi hiệu quả chỉ đạt 50-90% so với năng lực thiết kế. Áp lực kinh tế - xã hội, dân số tăng, ô nhiễm nguồn nước tại các đô thị, khu công nghiệp... khiến lượng nước thiếu so với nhu cầu khoảng 20-30%. Dự kiến đến năm 2030 sẽ thiếu khoảng hơn 32%.

Khả năng tiếp cận nước sạch và nước an toàn của Việt Nam rất thấp. Có tới 8% các doanh nghiệp sử dụng tài nguyên nước gặp sự cố về nước. Đơn cử như tại Nhà máy nước Sông Đà gặp khó khăn nhiều trong việc tiếp cận nguồn nước.

Tác động của biến đổi khí hậu đến quá sớm, nước biển dâng, tỷ lệ che phủ rừng cũng giảm đi nhiều trong khi hệ thống quản trị nước còn nhiều bất cập. Chưa có sự thống nhất nên hiệu quả quản lý quản trị chưa cao. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á thì việc quản lý nguồn nước của Việt Nam chưa có sự thống nhất nên hiệu quả quản lý, quản trị chưa cao. Việc quản lý nước ở các dòng sông đang bị chia năm, sẻ bảy vì các ngành đều có quyền sử dụng và khai thác trên đó. Cũng chính vì vậy, khi xảy ra vấn đề rất khó quy trách nhiệm đâu là đơn vị chịu trách nhiệm chính. Theo Nghị quyết 99/NQ-CP, Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng một bộ luật thống nhất về quản lý tài nguyên nước và các Bộ sử dụng nước với số lượng lớn chứ không phải quản lý nguồn nước đơn thuần như hiện nay.

(18/10/2021 15:07)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Ô nhiễm nguồn nước, suy thoái nguồn nước sạch đang là thách thức lớn cho toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ góc nhìn của ông Nguyễn Quang Huân, ĐBQH, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, theo ông thách thức suy giảm nguồn nước sạch có thể sử dụng được sẽ tác động đến chúng ta như thế nào?

Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam: 

Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam Nguyễn Quang Huân chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Theo định nghĩa Ngân hàng Thế giới hay Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác, an ninh nguồn nước bao gồm: Thứ nhất, phải đảm bảo trữ lượng nguồn nước từ đầu nguồn. Thứ hai, phải đảm bảo sử dụng nước một cách hiệu quả, công bằng với mọi đối tượng. Thứ ba, phải phòng tránh ô nhiễm. Nếu ba vấn đề trên chúng ta đều làm tốt thì an ninh nguồn nước cơ bản được đảm bảo.

Về trữ lượng nước, như ông Nguyễn Minh Khuyến đã nói, chúng ta phải chấp nhận rủi ro có đến 63% trữ lượng là nước ngoại sinh. Nước nội sinh chỉ có hơn 37%, tức là khoảng 320 tỷ m3, nước ngầm chỉ có 63 tỷ m3/năm. Lượng nước ngầm là tài nguyên vô cùng quý giá chúng ta phải dự trữ, trong trường hợp có thiên tai, hiểm họa tự nhiên, chiến tranh khiến không thể tiếp cận với nguồn nước mặt thì nước ngầm trở nên cực kỳ quý giá. Nếu khai thác không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến chất lượng các tầng nước ngầm và nguy cơ ô nhiễm ngày càng cao. Việc phục hồi lại tầng nước ngầm sẽ tốn rất nhiều thời gian, có khi đến hàng trăm năm, vì vậy phải hết sức lưu giữ và bảo quản. Còn 37% trữ lượng nước nội sinh nằm trên các con sông và phân bổ không đều, không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trong mùa khô hạn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, giá trị gia tăng của một mét khối nước tại Việt Nam đang rất thấp. Theo số liệu của Bộ, chúng ta mới chỉ đạt 0,37$/m3 nước, chỉ bằng ¼ so với Trung Quốc, Nhật Bản... Theo số liệu của thế giới, chúng ta chỉ đạt 2,37$/m3 nước, bằng 1/8 so với mặt bằng chung của thế giới. Chúng ta không chỉ sử dụng nước cho sinh hoạt mà còn sử dụng cho cả các hoạt động kinh tế. Hiện 83-85% nước được sử dụng cho ngành nông nghiệp, nếu giá trị gia tăng thấp thì hiệu quả của tài nguyên nước cũng bị thấp đi. Trong khi nước sinh hoạt chúng ta chỉ sử dụng khoảng 3%, công nghiệp khoảng 5% còn lại là thủy sản và phi nông nghiệp. Chúng ta cũng chưa có cơ chế rõ ràng bảo vệ nguồn nước sạch để sử dụng lâu dài. Nếu không thay đổi, dù là quốc gia có nhiều sông ngòi, chúng ta vẫn sẽ thiếu nước.

Một yếu tố cần quan tâm khác là mỗi ngày có khoảng 60 nghìn tấn rác thải cần xử lý, một năm có khoảng 22 triệu tấn rác. Trong khi đó, việc xử lý rác thải không đáng kể, chúng ta mới chỉ thu gom, xử lý rất hạn chế, từ rác thải sẽ ô nhiễm sang nguồn nước ngầm. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, hiện chỉ có 12-14% nước thải được xử lý, còn lại thì không xử lý mà đổ ra sông hồ. Mỗi năm 3 tỷ m3 nước thải không được xử lý. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, có khoảng 50% lượng phân bón, thuốc trừ sâu được dùng cho cây trồng nông nghiệp không được hấp thụ, bị xả trôi do mưa lũ hoặc do phương pháp không hợp lý. Còn theo số liệu của của Viện Khoa học nguyên tử, thì số liệu phân bón và thuốc trừ sâu bị rửa trôi có thể lên đến 70%.

(18/10/2021 15:15)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Thực tế, sự phân bố nguồn nước không đồng đều trên cả nước đã dẫn đến tình trạng thiếu nước theo mùa ở nhiều nơi. Thưa TS Nguyễn Linh Ngọc, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, theo ông cần có kịch bản cụ thể cho từng vùng thế nào trong trường hợp thiếu nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất?

TS Nguyễn Linh Ngọc, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Việt Nam là một đất nước trải dài, hẹp ngang, độ dốc từ Tây sang Đông, có những vùng lại thuộc đới khô... nên nguồn nước ở từng vùng, từng diện tích, từng khu vực có sự phân bổ khác nhau. Cụ thể, vùng cao như Hà Giang thiếu nước do yếu tố địa hình. Phía đồng bằng, nhiều nước hơn nhưng lại tập trung dân cư nhiều hơn, ô nhiễm nhiều hơn. Ở phía Nam có đới khí hậu khô, bản chất đã thiếu nước, đồng bằng sông Cửu Long cũng xâm ngập mặn... 

Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, TS Nguyễn Linh Ngọc chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Vậy giải pháp cho vấn đề này như thế nào? Theo tôi, mỗi vùng cần có một giải pháp cụ thể. Ngoài nước tự nhiên, nước chảy tràn, nguyên tắc chúng ta phải giữ được nước, đến mùa cạn phải tái sử dụng được. Để làm được điều này, chúng ta cần phải tăng cường công tác điều tra cơ bản (địa chất thủy văn) để đưa ra nguồn nước nhân tạo ra sử dụng. Bên cạnh đó, phải chia ra các vùng, không phải vùng nào cũng có chiến lược, mà mỗi vùng phải có chế độ sử dụng nước khác nhau. Ví dụ như ở miền núi phía Bắc như Hà Giang phải có chiến lược riêng, vùng Ninh Thuận, Bình Thuận phải xem xét, tính toán trồng cây gì phù hợp để có thể giúp bảo quản, bảo tồn nguồn nước, có thể tái sử dụng nước vào mùa khô. Tương tự, đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long, thay vì đắp đê để ngăn xâm mặn thì cần có phương án thích ứng như thay đổi cây trồng vật nuôi.

Để sử dụng và bảo đảm quản lý nguồn nước an toàn, hiệu quả, Bộ Tài nguyên và Môi trường nên phân loại, phân vùng khác nhau để đưa ra các đề án để bảo vệ, bảo quản nguồn nước.

(18/10/2021 15:18)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Từ ý kiến của TS Nguyễn Linh Ngọc, thưa TSKH Nghiêm Vũ Khải, ông có thêm ý kiến chia sẻ gì về vấn đề này?

TSKH Nghiêm Vũ Khải, Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, TSKH Nghiêm Vũ Khải chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Một số diễn giả cho rằng chúng ta thiếu nước một cách tự nhiên, khi nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa với lượng mưa 2.000- 2.500mm. Năm 2009, Đại sứ Israel chia sẻ về việc ao ước một năm chỉ cần có lượng mưa như Hà Nội mà không có. Do đó, không thể nói là nước ta thiếu nước.

Chúng ta có 63% nguồn nước từ tự nhiên đó là sông ngòi. Nhưng vì nạn phá rừng đã làm cho chúng ta kiệt quệ về nguồn nước. Ở miền Bắc, một cơn mưa 3-4 tiếng sau nước ngấm vào các tầng đá, lớp cỏ thực vật..., 3-4 tiếng sau nước mới chảy ra suối nên mới có nước ngầm. Việc chúng ta gây ô nhiễm nguồn nước đã khiến 70% nguồn nước chúng ta không dùng được. Thay vì than vãn, chúng ta hay tìm ra giải pháp để khắc phục.

(18/10/2021 15:30)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Định hướng của Chính phủ là hạn chế khai thác nước dưới đất do nguồn nước này đang ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và dần chuyển hướng sang khai thác nước mặt. Trong khi đó, nhiều lưu vực sông trong cả nước đang ô nhiễm. Vậy dưới góc nhìn của cơ quan xây dựng chính sách, thưa Nguyễn Thị Kim Anh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cần có kế hoạch phân bổ nguồn nước mặt và nước ngầm như thế nào để sử dụng hợp lý, bảo vệ nguồn nước hiệu quả?

Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Nước có tầm quan trong trong mọi mặt của đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… Nếu không có ý thức bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước hợp lý, có trách nhiệm thì tất yếu sẽ dẫn đến thiếu nước, đến một thời gian nhất định chúng ta sẽ phải mua nước sạch để sử dụng.

Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thị Kim Anh chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Với tư cách là cơ quan thẩm tra, là cơ quan của Quốc hội về lĩnh vực công nghệ - môi trường, trong đó có tài nguyên nước, chúng tôi thấy rằng định hướng của Chính phủ về hạn chế khai thác nước ngầm là hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Việc quản lý, khai thác phải đảm bảo, gắn với mục tiêu an ninh nguồn nước và phát triển bền vững, phân bổ tài nguyên nước phải được xem xét trong tổng thể quy hoạch tài nguyên nước, trong đó nguồn cấp nước sinh hoạt phải được ưu tiên hàng đầu và hài hòa lợi ích giữa các ngành kinh tế cũng như môi trường sinh thái.

Kịch bản phân bổ tài nguyên nước trong trường hợp cực đoan tiêu cực cũng cần được tính đến. Trong các loại hình an ninh phi truyền thống, an ninh nước cần phải được nhấn mạnh. Tất cả hệ thống chính trị phải vào cuộc nhằm nâng cao ý thức việc bảo vệ, sử dụng, khai thác nguồn nước có trách nhiệm.

Quy hoạch của các bộ, ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có sử dụng tài nguyên nước phải rà soát gắn với tài nguyên nước, bảo vệ, duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, không vượt quá ngưỡng khai thác đối với các tầng chứa nước. Sử dụng nước tổng hợp, đạt mục tiêu hợp lý, hài hòa lợi ích, bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ giữa các tổ chức cá nhân.

Ngoài ra, tôi cho rằng, cần phải xây dựng chiến lược khai thác nguồn nước hài hòa với nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Triển khai các giải pháp bổ sung nguồn nước mặt thay thế cho nước ngầm, phục vụ sinh hoạt, sản xuất vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, đồng bằng sông Hồng. Tôi cũng nhấn mạnh việc phải sử dụng nước tuần hoàn, ví dụ nước sinh hoạt tái tạo để tiếp tục sử dụng cho lĩnh vực khác.

Đặc biệt, cần rà soát tổng thể về nước ngầm đã đến mức phải cảnh báo hay chưa, từ đó xác định ngưỡng khai thác nguồn nước ngầm. Kiểm soát, hạn chế khai thác nguồn nước ngầm cũng như hạn chế ô nhiễm nước ngầm. Cùng với đó là bảo vệ, phát triển rừng, đó là nơi tạo ra và giữ nguồn nước ngầm bền vững nhất.

(18/10/2021 15:45)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Điều tra, kiểm kê tài nguyên nước để nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng nước sạch

Ngày 24.3.2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 432/QĐ- TTg Phê duyệt Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp đó, ngày 4.8.2021, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký Quyết định 1383/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025. Từ kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước quốc gia, kiểm kê việc khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước; sẽ là cơ sở để đánh giá được tài nguyên nước hiện có bao nhiêu, phân bố thế nào, đang khai thác ra sao, những vấn đề gì bất cập; các cơ quan quản lý mới tính toán được các phương án khai thác, sử dụng hợp lý, ổn định và đưa ra được giải pháp bảo vệ nguồn nước sạch bền vững, lâu dài.

(18/10/2021 16:00)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Có thể nói rằng, việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước và Đề án tổng kiểm kê tài nguyên nước là bước đột phá, là cơ sở để đánh giá lại việc khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt cho hiệu quả hơn. Đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang triển khai các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ như thế nào, thưa ông Nguyễn Minh Khuyến?

Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Căn cứ vào đặc điểm tình hình, nhu cầu phát triển của đất nước cũng như bối cảnh chung của thế giới, khu vực nào cần phát triển thì cần ưu tiên điều tra trước. Căn cứ vào sơ đồ phát triển này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu và trình Chính phủ Đề án Kiểm kê tài nguyên nước quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Trước đây, kiểm kê sẽ được thực hiện 3 năm 1 lần, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, chúng tôi nhận thấy kiểm kê tài nguyên nước không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, và hơn 17 năm đề án này mới được Chính phủ phê duyệt. Theo đánh giá, đề án này cần nguồn lực tương đối lớn, theo Quyết định số 1383 của Chính phủ phê duyệt đề án này thì đến năm 2025, Việt Nam sẽ có bộ chỉ số về tài nguyên nước và đây là bộ chỉ số được công bố lần đầu. Tài nguyên nước được coi là tài sản công, theo Điều 53 của Hiến pháp thì tài nguyên này cần được quản lý theo Luật Tài sản công.

Ảnh: Duy Thông

Đề án sẽ có đầy đủ những thông tin về mùa kiệt, tháng kiệt… Cũng theo ý kiến của các chuyên gia, chúng ta thiếu vào những tháng mùa khô chứ tổng lượng nước cả năm không thiếu. Như Israel, họ có nhà máy xử lý 600.000m3/ngày đủ cho nền kinh tế, công nghệ có thể tái chế tới 80% lượng nước. Còn tại Việt Nam, mới chỉ đặt mục tiêu xử lý 20-30% vào năm 2030 và còn rất nhiều rủi ro. Chính vì vậy, phải cụ thể hóa kế hoạch sử dụng cho phù hợp với các nhu cầu.

Để đạt được những kết quả này cũng cần sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là các bộ sử dụng nhiều tài nguyên nước như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải. Các bộ này cũng sẽ cam kết tham gia vào đề án kiểm kê này. Và với sự phối hợp đó, hy vọng chúng ta sẽ có bức tranh toàn diện về tài nguyên nước.

(18/10/2021 16:05)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Ước tính trung bình có khoảng 80% lượng nước cấp cho sinh hoạt trở thành nước thải sinh hoạt, nhưng tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý chỉ mới đạt khoảng 10 - 11% trên tổng số lượng nước thải đô thị. Thưa TSKH Nghiêm Vũ Khải, theo ông khi triển khai các hoạt động điều tra, kiểm kê tài nguyên nước cần chú trọng điều gì để giám sát, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước các lưu vực sông chính, hạn chế ô nhiễm nguồn nước?

TSKH Nghiêm Vũ Khải, Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Ảnh: Duy Thông

Trong hoạt động quản lý nhà nước, ngoài nhiệm vụ quan trọng về xây dựng thể chế thì công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn nước cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Để làm tốt điều này, công tác điều tra, kiểm kê vô cùng quan trọng, trở thành cơ sở để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sau này. Bên cạnh đó, việc các bộ ngành, địa phương đã có phần đánh giá tổng kết được xem là thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài phục vụ mục đích sản xuất, sinh hoạt thì phải đánh giá một cách căn bản hơn.

Trong không gian, vùng, địa lý khác nhau, vĩ độ khác nhau, mùa khô đến sớm - đến muộn, phải đánh giá được đặc điểm trữ lượng, chất lượng, đặc điểm hóa lý, chất lượng dòng chảy, những vấn đề quan hệ quốc tế về những dòng sông chảy xuyên các quốc gia để có thông số một cách chính xác. Khi nắm rõ được các thông số, chúng ta mới có quy hoạch, kế hoạch lâu dài, thích ứng với từng thời gian.

Đây là việc rất khó khăn bởi lẽ chúng ta từng đưa ra rất nhiều kế hoạch nhưng không có đủ tiềm lực, nguồn lực để thực hiện. Hoặc điều tra chưa đúng sẽ dẫn đến quy hoạch, kế hoạch sai. Vì vậy, chúng ta phải có những cách tiếp cận khác nhau. 

Tôi đề nghị các đại biểu Quốc hội nghiên cứu, tư vấn xây dựng nguồn nhân lực, có chính sách động viên, khuyến khích để có nguồn nước hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường. Như trường hợp của Israel, 70-90% nguồn nước là từ tái chế. Để làm được điều đó, chúng ta phải áp dụng công nghệ tốt và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị.

(18/10/2021 16:10)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Thưa ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, theo ông, việc đầu tư cho các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước cần triển khai ra sao để bảo đảm tính trọng tâm, trọng điểm, vừa khuyến khích các thành phần của xã hội tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng nước sạch?

Ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội:

Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành chia sẻ tại tọa đàm
Ảnh: Duy Thông

Bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề như biến đổi khí hậu, nguồn nước... trong khi nguồn nước dân sinh chỉ đạt 50%. Đất, nước và không khí là 3 cụm thành tố đi cùng với nhau cấu thành sự tồn tại. Điểm đầu tiên, cần thiết phải có chương trình đánh giá, điều tra xác định nước là yếu tố quan trọng và tôi mong muốn chương trình này gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, về nội dung điều tra, trước tiên phải điều tra về nguồn nước, hết sức chú ý đến vùng khô hạn, đặc trưng về khí hậu như Ninh Thuận, Bình Thuận; vùng đặc trưng về địa hình như Hà Giang, hay một số địa phương vùng cao, miền núi.

Thứ ba, khu vực Tây Nguyên hiện đang đối mặt với vấn đề về nguồn nước hết sức nghiêm trọng, đặc biệt là tầng nước ngầm, do tác động của con người đến môi trường tự nhiên. Các vùng này cần được ưu tiên điều tra, đặc biệt là vùng gắn với đời sống người dân, nhu cầu sử dụng không chỉ là nước sinh hoạt. Tôi cho rằng đấy chính là vấn đề cốt lõi, những vùng trọng tâm, trọng điểm.

Thứ tư, cần có đánh giá hệ thống quan trắc đo lường chất lượng nước.

Về giải pháp, phải gắn với quy hoạch phát triển. Trước khi đưa ra quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp phải đánh giá rất kỹ về nguồn nước, trở thành chỉ tiêu cụ thể. Tôi cũng đồng ý với quan điểm của bà Kim Anh về sử dụng tuần hoàn nước. Trên thực tế đồng bào vùng cao Hà Giang, Cao Bằng đã làm từ lâu, đã đến lúc đưa thành vấn đề áp dụng thực tiễn trong cuộc sống. Tuy nhiên để thực hiện tốt việc điều tra, phải tiến hành xây dựng, kinh tế hoá cơ sở dữ liệu. Muốn có cơ sở dữ liệu tốt, ngân sách Nhà nước không thể bảo đảm được mà cần xã hội hoá, lượng hoá kinh tế các hoạt động trên nguyên tắc người nào dùng thì phải trả tiền.

Bên cạnh việc tuần hoàn sử dụng nước là khép kín quản lý để có giải pháp tốt hơn. Tăng cường đầu tư trọng điểm trạm quan sát, trung tâm điều tra, nghiên cứu. Quan điểm của tôi là chúng ta mới làm hệ thống hồ treo, nhưng còn một giải pháp rất quan trọng là phục hồi rừng. Bài toán nước của Hà Giang chính là vấn đề về rừng và người dân hoàn toàn tham gia được vào quá trình phục hồi rừng. Tuy nhiên mật độ mỗi vùng mỗi khác nhưng vẫn có hệ thực vật tự nhiên, khi phục hồi lại, nâng độ che phủ rừng lên, chúng ta sẽ có tầng giữ nước và quan trọng nhất là phải chú tâm vào bài toán kinh tế.

(18/10/2021 16:17)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Thực hiện các hoạt động điều tra, kiểm kê tài nguyên nước cũng chính là tiền đề đề ra các biện pháp tăng cường quản lý, nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. Để thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững trong sản xuất và đời sống “Đảm bảo nguồn cung cấp và quản lý bền vững tài nguyên nước và các điều kiện vệ sinh an toàn cho tất cả mọi người” (SDG6) đến năm 2030, theo bà chúng ta cần kế hoạch hành động như thế nào, thưa Nguyễn Thị Kim Anh?

Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Để nâng cao giá trị, hiệu quả sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, đầu tiên, tôi cho rằng cần có giải pháp về xây dựng tài nguyên nước có tầm nhìn dài hạn, hài hòa với điều kiện tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, hoặc khai thác hiệu quả với nguồn nước bên ngoài lãnh thổ, bảo đảm cấp nước sạch cho sinh hoạt, ưu tiên cấp nước hợp vệ sinh cho khu vực hay xảy ra thiên tai, vùng khó khăn, vùng nguồn nước ô nhiễm.

Ảnh: Duy Thông

Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước, đặc biệt là Luật Tài nguyên nước 2012. Việc ban hành văn bản là việc đầu tiên để hoàn thiện thể chế, thực thi văn bản này để làm sao thực hiện có hiệu quả, đó là trách nhiệm của tất cả các cơ quan đến từng người dân. Hiện tại, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước cũng như các luật quản lý tài nguyên nước nói chung. Chúng tôi đề nghị sớm nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ, từ đó đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

Thứ ba, như ý kiến các chuyên gia đã nói, bên cạnh nguồn lực Nhà nước là chủ đạo, ưu tiên cho sử dụng nước, thì phải có sự đẩy mạnh cũng như tạo điều kiện, khuyến khích để cho các tổ chức, thành phần kinh tế hỗ trợ, đầu tư phát triển đối với lĩnh vực nước. Hay nói cách khác, là xã hội hóa công tác này để giúp cho tổ chức, cá nhân, các nguồn lực mạnh lên.

Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào quản trị nước, một trong những vấn đề Nhà nước có thể làm được ngay đó là đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình cũng như mở rộng đối tượng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để các tổ chức cá nhân có mong muốn hỗ, trợ đầu tư lĩnh vực này thì có thể tham gia được. Trong đó, xác định nước là hàng hóa thiết yếu cần được quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Xây dựng cơ chế đóng góp của người dân khi tham gia đấu nối, sử dụng nước đảm bảo công bằng, minh bạch và nâng cao ý thức cộng đồng.

Thứ tư, cần tập trung phát triển hạ tầng để khai thác, sử dụng nước bền vững, đồng bộ như nâng cao năng lực của hệ thống hạ tầng khai thác trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ. Ví dụ như Isarel, không phải là đất nước dồi dào nguồn nước, nhưng họ lại chủ động được nguồn nước. Chuyển đổi số rất quan trọng, nơi có nước và nơi không có nước phải điều tiết như thế nào để phù hợp. Sử dụng, khai thác nước phải phù hợp, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu.

Thứ năm, cần đầu tư xây dựng các công trình chứa nước. Một trong những nơi chứa nước đó là ao hồ công trình thủy lợi, phải có giải pháp chủ động tích trữ nước khi các công trình này xuống cấp. Có thời kỳ phát triển công nghiệp, các công trình nhà ở, khu công nghiệp đã phá vỡ đầm, ao, hồ. Phải có quy hoạch để hài hòa tất cả các ngành nghề để có hệ thống công trình tích trữ, chủ động được về nguồn nước. Chuyển nước từ nơi thừa sang thiếu, tạo nguồn nước sạch ổn định cho các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước….

Thứ sáu, cần thu hút nguồn lực xã hội, huy động sự tham gia, giám sát của cộng đồng trong bảo vệ nguồn nước, đầu tư, xây dựng, vận hành, giám sát công trình chất lượng nước. Nội dung này tại điều 6 của Luật Tài nguyên nước quy định đại diện cộng đồng dân cư được lấy ý kiến, giám sát hoạt động liên quan đến tài nguyên nước. Chúng tôi cũng mong muốn tổ chức đầu tư cũng như chính quyền địa phương tăng cường tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư tham gia giám sát bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước.

(18/10/2021 16:21)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Ông kỳ vọng gì từ những quy hoạch, đề án trên thưa ông Nguyễn Quang Huân? Những kết quả của hoạt động kiểm kê, điều tra cơ bản tài nguyên nước liệu sẽ giúp các nhà quản lý dự liệu, giảm tối đa việc thiếu nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt là các vùng khó khăn về nguồn nước không thưa ông?

Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam:

Vấn đề nước đã được toàn xã hội, cả hệ thống chính trị và toàn nhân dân quan tâm, vì vậy, theo tôi trong thời gian tới các vấn đề về nước sẽ được cải thiện. Vì nếu chúng ta không bắt tay vào làm ngay từ bây giờ, thì 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ không có đủ nước sạch để dùng, bất kể mùa mưa hay mùa khô vì ô nhiễm.

Ảnh: Duy Thông

Quyết định 1283 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm kê nguồn nước, theo tôi đây là bước đi đầu tiên, cơ sở khoa học đầu tiên để tiến hành quy hoạch. Vì hiện nay nếu chúng ta muốn quy hoạch, muốn giảm nước thừa, tăng nước thiếu, giảm nước ô nhiễm thì phải có chiến lược cụ thể. Hiện nay các số liệu của chúng ta phần lớn lấy từ các tổ chức quốc tế, còn trong nước vẫn chưa có kho lưu trữ số liệu quốc gia.

Các diễn giả tại đây cũng đề cập đến vấn đề Israel thành công về quản lý nguồn tài nguyên nước, cho đến nay họ là nước đầu tiên trên thế giới tuyên bố đủ nước dùng cho mọi mặt yêu cầu mà không phụ thuộc vào thời tiết. Họ tuyên bố điều này vào năm 2013 nhưng thực tế họ đã chuẩn bị cho điều này từ năm 1939, tức là 74 năm để thành công, có thể thấy Israel ưu tiên vấn đề về nước như thế nào.

Về việc tái sử dụng nước, Israel đã tái sử dụng nước đến 80-90%, nếu Việt Nam đi theo con đường này chưa hẳn phù hợp vì chi phí rất lớn. Hiện nay quốc gia tái sử dụng nước đứng sau Israel là Tây Ban Nha chỉ khoảng hơn 20%, không phải quốc gia nào cũng tái sử dụng nước nhưng các quốc gia đều ưu tiên xử lý nước trước khi thải ra môi trường. Đối với những vùng thiếu nước như Ninh Thuận, Bình Thuận thì có thể nghiên cứu sử dụng hình thức tái sử dụng nước, thậm chí tính đến bài toán sử dụng nước biển, vì người dân có quyền tiếp cận nước sạch. Sau khi có số liệu đầy đủ cần xây dựng quy hoạch chính sách dài hạn. Bởi để quy hoạch đi vào đời sống thường có "độ trễ" tới hàng chục năm, nếu quy hoạch không đủ dài hạn thì sẽ không thể có những phương án tối ưu.

Chúng ta đang thiếu hụt cơ chế tiếp cận kinh tế thị trường. Đơn cử như việc xây dựng hồ, đập với số lượng rất lớn, hơn 1.000 hồ, đập. Ban đầu ngân sách đầu tư xây dựng rất lớn nhưng do quá trình sử dụng, công tác quản lý vận hành chưa tốt, không duy tu, bảo dưỡng dẫn tới xuống cấp trầm trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới điều này, trong đó có một nguyên nhân là do thiếu vốn, và việc thiếu vốn này là do chúng ta không vận hành theo kinh tế thị trường. Nếu hồ, đập mà tới 10 năm mới tiến hành bảo dưỡng một lần và chỉ lấy nguồn kinh phí từ nhà nước thì đấy sẽ là gánh nặng rất lớn. Tôi nghĩ chúng ta cần nghiên cứu chính sách để khắc phục vấn đề này.

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước, hiện chúng ta chưa có cơ chế để một tổ chức nào đó vận hành bảo vệ nguồn nước. Như vấn đề trồng rừng để tạo nguồn sinh thủy, chúng ta phải có cơ quan, tổ chức thực hiện điều này. Nếu chỉ kêu gọi cộng đồng thì sẽ rất khó. Vì từ cộng đồng đi lên còn cần ý thức của người dân, khả năng kêu gọi được còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng nếu chúng ta có một tổ chức mà Nhà nước giao cho phụ trách việc này thì họ sẽ có cơ chế để hoạt động. Như Trung Quốc hiện nay, các cơ quan bảo vệ nguồn nước họ sẽ có một quỹ đất để khai thác, từ đó có nguồn kinh phí để đầu tư vào bảo vệ nguồn nước. Theo tôi, chúng ta nên nghiên cứu về vấn đề này, vì đây là một thành tố quan trọng trong bảo vệ an ninh nguồn nước.

Đây là dịp rất tốt để chúng ta có một bức tranh toàn cảnh, từ đó thống nhất chúng ta đang thiếu khuyết điều gì trong bảo vệ an ninh nguồn nước, vì nước liên quan đến rất nhiều yếu tố, chúng ta cần khắc phục dần dần và phải có lộ trình. Những điều dễ làm phải thay đổi ngay như trồng cây sinh thủy đầu nguồn, không có lý do gì để chậm trễ cả.

(18/10/2021 16:27)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ chất lượng nguồn nước sạch trong tình hình mới

Luật Tài nguyên nước 2012 có quy định đối với việc bảo vệ chất lượng nguồn nước phục vụ sản xuất nước cho sinh hoạt. Tuy nhiên, thực tế một số văn bản, chính sách vẫn còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về việc quản lý, giám sát chất lượng nước sạch sau quá trình sản xuất; việc quản lý, khai thác nước, bảo vệ nguồn nước; việc phân phối, tiêu thụ nước sạch đến các hộ dân. Sự thiếu đồng bộ trong các khâu, từ khai thác đến việc bảo đảm xử lý nước thô thành nước sạch và khâu phân phối qua hệ thống đường ống đến từng hộ dân, làm cho việc kiểm tra, giám sát cũng thường xuyên gặp khó khăn. Kết quả khảo sát chương trình mục tiêu quốc gia của Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chất lượng nước uống ở nông thôn chưa được giám sát và kiểm định chặt chẽ…

(18/10/2021 16:39)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Một trong những nội dung được nhiều người quan tâm là các quy định pháp luật liên quan đến cấp nước sinh hoạt cho người dân. Hiện Bộ Tài nguyên và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Tài nguyên nước (sửa đổi). Thưa Thưa TS Nguyễn Linh Ngọc, ông có góp ý gì về hoạt động cung cấp và tiêu thụ nước sạch, chất lượng nước sạch nước?

TS Nguyễn Linh Ngọc, Chủ tịch Hội Nước sạch và Môi trường Việt Nam, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Luật Tài nguyên nước năm 2012 là bước ngoạt cho công tác quản lý tài nguyên nước. Tuy vậy, sau gần 10 năm triển khai thực hiện thì một số vấn đề bất cập đã nảy sinh. Tôi cho rằng, điều đầu tiên cần thống nhất là giao cho đầu mối quản lý cụ thể, mặc dù Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường quản về tài nguyên nước, nhưng về thủy lợi lại thuộc quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các công trình thủy điện trên sông suối lại thuộc Bộ Công thương...

Trong Luật Tài nguyên nước, đã đặt ra vấn đề quản lý nước theo lưu vực nhưng chưa thực sự hiệu quả. Tôi đề nghị trong quá trình sửa luật, cần đưa cộng đồng dân cư, các tổ chức chính trị xã hội các khu vực đó để bảo vệ nguồn nước cho hiệu quả. Trong những năm qua, phong trào nông thôn mới rất thành công, chúng ta cần sử dụng mô hình bảo vệ quản lý nguồn nước như phong trào xây dựng nông thôn mới để cộng đồng dân cư tự bảo vệ lưu vực nguồn nước. Khi người dân tham gia giám sát, nêu cao trách nhiệm cộng đồng thì việc quản lý sẽ hiệu quả và thực chất hơn.

Về vấn đề cấp nước, tôi cho rằng cần tư nhân hóa, xã hội hóa, bởi Nhà nước không thể bao cấp mãi được. Các doanh nghiệp xã hội hóa có nguồn thu, có sự chủ động hơn.

(18/10/2021 16:45)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Người dân ở nhiều nơi tuy đã có nước hợp vệ sinh, nước sạch để dùng, nhưng việc kiểm định chất lượng nguồn nước tại nhiều địa phương còn sơ sài, thiếu chế tài và các giải pháp đồng bộ, thường xuyên. Thưa ông Nguyễn Lâm Thành, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần đổi mới cơ chế quản lý như thế nào để tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi địa phương quản lý “một khúc”, thiếu thống nhất trong lĩnh vực này?

Ông Nguyễn Lâm Thành, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội:

Ảnh: Duy Thông

Vấn đề cung cấp nước của chúng ta trong giai đoạn vừa qua đã cải thiện rất nhiều, chuyển từ thiếu nước sang có nước, chuyển từ có nước sang nước sạch. Đối với khu vực đô thị có nhà máy nước lớn thì hệ thống nước được bảo đảm, song nhiều vùng nông thôn vẫn sử dụng thiết bị, hệ thống và nhà máy nước nhỏ. Đặc biệt nhiều khu vực miền núi chỉ chuyển từ hệ thống nước khe sang nước bể bằng hệ thống lọc rất sơ khai.

Hiện nay, các đánh giá ở địa phương, bộ ngành rất không đồng nhất về chỉ số, chỉ tiêu đạt được. Liên quan đến quản lý nhà nước, chúng ta đang thiếu thống nhất về chỉ tiêu đánh giá mức độ, chất lượng nước phục vụ sinh hoạt người dân. Ví dụ xếp cấp độ 1, 2, 3 thì phải tương ứng với chỉ số cụ thể nào. Các địa phương chưa thống nhất, các bộ ngành cũng chưa thống nhất mà nhiệm vụ này đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nên phải quản lý, quy định rõ để bảo đảm phục vụ dân.

Bên cạnh nước sinh hoạt, vấn đề nhu cầu nước sản xuất trong xu hướng mới cần phải giải quyết tong tình hình hiện nay như thế nào? Chúng ta đang thiếu nguồn lực cho vấn đề hệ thống trung tâm xử lý. Khi yêu cầu nước kiểm định nâng cao thì kiểm định chất lượng nước tiến tới cũng trở thành nghề, kinh tế hoá. Một vấn đề nữa là về công nghệ, cần có các nghiên cứu, cải tiến thiết bị.

Theo tôi, bài toán quản lý nhà nước cần phải giải quyết tất cả các vấn đề đó, cả vấn đề cơ chế quản lý, thiết bị, nguồn nhân lực. Trong đó, quan trọng nhất là cơ chế quản lý làm sao phải khuyến khích được xã hội hoá, nhiều thành phần tham gia.

(18/10/2021 16:50)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Bảo vệ nguồn nước, bảo đảm nước sạch cho người dân là yêu cầu thiết yếu nhưng đi đôi còn là nguồn lực thực hiện. Thưa bà Nguyễn Thị Kim Anh, theo bà cần có những giải pháp gì trong việc đánh giá nguồn tài nguyên này để quản lý cho phù hợp, bảo đảm sử dụng hiệu quả, hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội đồng thời hạn chế ô nhiễm, suy thoái cạn kiệt nguồn nước?

Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Ảnh: Duy Thông

Nước là tài nguyên hữu hạn, chúng tôi đánh giá nước vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển. Nếu chúng ta hành động đúng và trúng thì sẽ tạo thành động lực lớn. Ngược lại hành động không đúng thì sẽ đẩy lùi sự phát triển. Đánh giá tài nguyên nước để quản lý phù hợp là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách hiện nay. Chúng tôi đánh giá, trong những năm qua công tác quản lý tài nguyên nước đạt được những thành tựu cụ thể, đảm bảo an sinh, sức khỏe, chất lượng cuộc sống, ở mức độ nước vẫn đang trong tầm kiểm soát. Nước sạch của người dân là yêu cầu tất yếu, do đó cần thiết đánh giá tài nguyên nước theo lưu vực sông, theo hiện trạng, phân vùng sử dụng nước và phân vùng hệ thống.

Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 183 có Đề án tổng thể kiểm kê tài nguyên nước quốc gia đến năm 2025. Khi kiểm kê, chúng ta sẽ đánh giá được chất lượng, từ đó có những hành động phù hợp. Chúng tôi đánh giá cao quyết định này, đây là cơ sở khoa học để thực hiện giải pháp tối ưu trong khai thác và bảo vệ nguồn nước, sắp xếp, ưu tiên đầu tư cho hạ tầng nguồn nước trong bối cảnh đất nước còn hạn chế về nguồn lực. 

Bên cạnh rà soát tổng thể nguồn nước, hoạt động cấp nước sạch toàn quốc, một số giải pháp cần tính đến như xây dựng, triển khai cơ chế, chính sách, thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ đầu tư cấp nước sạch, ứng dụng công nghệ tiên tiến như thu, trữ, xử lý, tái sử dụng nước, hạn chế thất thoát nước và sử dụng nước tiết kiệm là một trong những hoạt động thiết yếu hàng đầu. Bên cạnh đó, tuyên truyền tầm quan trọng của việc sử dụng nước sạch đối với sức khỏe, chất lượng cuộc sống. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để giúp cho hoạt động quản lý nước được tốt. 

Với tầm quan trọng đó, mới đây Chính phủ đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội "Đề án Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn hồ đập, hồ chứa nước giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045". Đây là vấn đề an ninh phi truyền thống, bên cạnh những vấn đề an ninh mạng, dịch bệnh... Trong nội dung đề án này tập trung giải pháp đầy đủ để sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên nước. Theo đó, Chính phủ đề nghị 10 giải pháp như: huy động nguồn lực tổ chức, nguồn lực xã hội hóa để chủ động cấp tưới tiêu thoát nước, an toàn đập, hồ chứa nước; đảm bảo thực hiện đa mục tiêu đối với công trình thủy lợi, phòng chống giảm thiểu tác động bất lợi do thiên tai, khí hậu, bảo vệ phát triển rừng; xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá an ninh nước; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế như truyền thông để giúp cho cơ quan, tổ chức xã hội, đặc biệt là người dân thấy được tầm quan trọng của đề án này. 

Bên cạnh việc Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét Đề án Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn hồ đập, thì Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đang báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sẽ đề nghị Quốc hội có Nghị quyết riêng về vấn đề an ninh nguồn nước; từ đó giúp cho toàn dân, các tổ chức xã hội chung tay thực hiện nhiệm vụ này. Đồng thời, trong một vài năm tới, chúng tôi đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, xây dựng, sửa đổi bổ sung Luật Tài nguyên nước cũng như các luật có liên quan đến tài nguyên để phù hợp với thực tiễn, xu thế phát triển hiện nay, giúp cho việc quản lý tài nguyên nước đảm bảo tiết kiệm, khai thác nước hiệu quả, để người dân đều bình đẳng trong sử dụng nước, ai cũng có cơ hội sử dụng nước. 

(18/10/2021 16:57)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Có ý kiến cho rằng, chính sách, quy định hiện nay chưa tính toán đầy đủ giá trị của tài nguyên nước, dẫn đến các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp chưa tính toán đủ giá thành sản phẩm, chưa xác định chính xác hiệu quả sử dụng nước, dẫn đến việc sử dụng nước không tiết kiệm, thất thoát, lãng phí nước, gây thất thu ngân sách nhà nước, không kêu gọi được việc xã hội hóa trong ngành nước. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào thưa TSKH Nghiêm Vũ Khải?

TSKH Nghiêm Vũ Khải, Đại biểu Quốc hội Khoá XI, XII, XIV, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội:

Trong nền kinh tế thị trường, tính giá đúng, giá đủ là yêu cầu hết sức quan trọng. Nếu tính giá không đúng thì rất ảnh hưởng đến người sản xuất, người tiêu dùng và nhà quản lý. Tính giá đúng chính là việc đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Chính vì vậy, tính giá là vấn đề cốt lõi. Năm 2008, tôi đi giám sát ở Đồng Nai, Bình Dương thấy người dân bơm nước ngầm lên để phục vụ cho nhà máy lụa, hàng nghìn, hàng chục nghìn m3. Việc bơm như thế thì bao nhiêu triệu năm mới có thể tích lũy được?

Có thể thấy, khi mà chúng ta bơm lên một nguồn nước khác thay thế vào, môi trường thay đổi, nguyên tố độc hại cũng theo lên dẫn đến thiệt hại đơn, thiệt hại kép. Tôi đề nghị, nếu được an ninh nguồn nước, vấn đề tính giá, cải thiện giá, đầu tư về khoa học công nghệ.

Tôi nhận thấy việc xử lý rác thải, nước thải có nhiều vấn đề, tương đồng nhất là vấn đề công nghệ. Rất nhiều nhà sáng chế tạo ra các lò đốt rác, đa phần là không tồn tại được mấy chục năm. Vì rác có rất nhiều chất độc hại, dễ bị ăn mòn.Vì vậy, Việt Nam cần tính đến chuyện đầu tư về công nghệ, cùng chia sẻ lợi ích với các nhà sáng chế nước ngoài để có hiệu quả chúng ta cùng có lợi. Đầu tư khoa học công nghệ, lấy khoa học công nghệ làm cốt lõi thì mới có giá đúng, giá rẻ. Bảo đảm lợi ích giữa các bên thì mới có thể xã hội hóa.

(18/10/2021 17:01)

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng: Thưa quý vị và các bạn!

Tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe cộng đồng - điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững. Tầm quan trọng của nước đối với xã hội, sức khỏe con người, phát triển kinh tế và hệ sinh thái đã được xác định. Nguồn nước hữu hạn, nhu cầu ngày một cao nên việc quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước phục vụ phát triển bền vững là rất cần thiết. Trong thời gian rất ngắn, các ý kiến của các nhà quản lý, nhà lập pháp, các chuyên gia, doanh nghiệp tại buổi tọa đàm hôm nay sẽ là một kênh thông tin quý báu để các cấp, các ngành, địa phương nỗ lực chung tay, vào cuộc, đặc biệt là nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong những việc làm cụ thể hằng ngày, hướng tới mục tiêu quản lý và phát triển bền vững tài nguyên nước.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các vị khách quý đã tham gia Tọa đàm ngày hôm nay và mong được gặp lại trong lần đối thoại lần sau.

Xin trân trọng cảm ơn!

ĐBND