Gắn quản lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông với Mục tiêu phát triển bền vững 

Xem với cỡ chữ
Với nỗ lực thực hiện thành công Tuyên bố Hà Nội tại Đại hội Tổ chức các Cơ quan Kiểm toán tối cao châu Á (ASOSAI) lần thứ 14, Kiểm toán Nhà nước đã chủ trì thực hiện cuộc kiểm toán hợp tác với chủ đề “Kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững”.

Cuộc kiểm toán thực hiện trong gần 2 tháng (3.3 - 29.4.2021) tại 4 bộ, ngành và 12 tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Mê Kông nhằm đánh giá công tác quản lý tài nguyên nước và việc tuân thủ các cam kết quốc tế của Chính phủ trong quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Mê Kông gắn với việc thực hiện Mục tiêu cụ thể 6.5 thuộc Mục tiêu phát triển bền vững số 6: “Đến năm 2030, thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, bao gồm cả nguồn nước xuyên biên giới thông qua hợp tác quốc tế”.

Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế

Theo Kiểm toán Nhà nước (KTNN), giai đoạn 2016 - 2020, Chính phủ đã quan tâm và có nhiều nỗ lực trong việc tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông gắn với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Các bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng mục tiêu, làm cơ sở triển khai xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương.

Cuộc kiểm toán ghi nhận hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã được xây dựng, ban hành tương đối đầy đủ và cụ thể. Mạng lưới quan trắc, giám sát tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chất lượng nguồn nước đã và đang từng bước được đầu tư, hoàn thiện. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát về tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước được tổ chức định kỳ, qua đó đã phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm. Tổng nguồn lực tài chính đã sử dụng cho quản lý tài nguyên nước tại các đơn vị được kiểm toán khoảng 42.542 tỷ đồng và ngày càng tăng.

Về hợp tác quốc tế, Chính phủ đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế về sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt là Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông 1995 (Hiệp định Mê Kông 1995) cùng nhiều hoạt động khác trong khuôn khổ của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC).

Kiểm toán nhà nước thực hiện việc kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mê Kông

Bất cập quản lý tài nguyên nước

Bên cạnh đó, cuộc kiểm toán cũng chỉ ra một số hạn chế. Đó là, công tác quy hoạch tài nguyên nước chung cả nước, của lưu vực sông, nguồn nước liên tỉnh, nội tỉnh chưa kịp thời. Một số nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên nước chưa cung cấp các thông tin, số liệu đầy đủ phục vụ quản lý nhà nước. Công tác giám sát, kiểm soát còn thiếu sự đồng bộ, chưa bảo đảm kết nối từ Trung ương đến địa phương. Công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước chưa bảo đảm quy định của Luật Tài nguyên nước 2012 và Luật Bảo vệ môi trường 2014. Công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác khoáng sản lòng sông tại một số địa phương chưa xem xét kỹ lưỡng đến khoảng cách tối thiểu so với đường bờ, phạm vi bảo vệ bờ sông; chưa rà soát, tính toán kỹ lưỡng trữ lượng mỏ, công suất, thời gian khai thác…

Ngoài ra, KTNN cũng xem xét và phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai Hiệp định Mê Kông 1995. Hiện mới có 4/6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mê Kông ký kết Hiệp định và chưa có đầy đủ các văn bản pháp lý làm cơ sở điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong khi các hoạt động phát triển thủy điện dòng nhánh tại các quốc gia thành viên MRC ngày càng nhiều. Thiếu các điều khoản cụ thể để giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên MRC trong việc sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước…

Những bất cập nói trên kết hợp với biến đổi khí hậu, sự gia tăng khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia thượng nguồn đã ảnh hưởng tiêu cực tới Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2020, nước sông Mê Kông từ thượng nguồn về đây giảm 157 tỷ m3 so với năm 2011, lượng phù sa bùn cát cũng giảm tương ứng 14 triệu tấn so với năm 2017 (37%). Lượng nước năm 2020 giảm 22 tỷ m3 so với năm 2019. Tình trạng xâm nhập mặn gây thiệt hại đến 509,8 nghìn hecta cây trồng, 486 nghìn hộ bị thiếu nước sinh hoạt; 1,5 triệu hecta đất bị suy thoái chất lượng do giảm độ phì; 2.158 vụ sạt lở thiệt hại ước tính 1.078 tỷ đồng; trữ lượng đánh bắt thủy sản tự nhiên sụt giảm 12,6 nghìn tấn ước tính 770 tỷ đồng. Chất lượng nước tại nhiều con sông, kênh, rạch đều ghi nhận tình trạng ô nhiễm - là nguyên nhân dẫn đến 84,6 nghìn ca bệnh trong giai đoạn 2016 - 2020 theo thống kê của ngành y tế...

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN đã kiến nghị Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Mê Kông 1995 nghiên cứu, trao đổi, tham mưu cho Thủ tướng đề xuất MRC xây dựng các văn bản/hướng dẫn kỹ thuật về giám sát sử dụng nước trên dòng nhánh, duy trì dòng chảy tối thiểu và xây dựng các điều khoản, chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia thành viên. Đồng thời, thúc đẩy MRC thực hiện chuyển giao các hệ thống quan trắc và các quốc gia thành viên đưa vào vận hành hiệu quả nhằm bảo đảm cơ sở dữ liệu cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên toàn lưu vực sông Mê Kông. Cùng với đó, kiến nghị các bộ, ngành, địa phương ban hành, sửa đổi cơ chế, chính sách theo thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nguồn nước và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững đến 2030.

Minh Hương