Gỡ khó cho doanh nghiệp quốc phòng 

Xem với cỡ chữ
Khoản 5, Điều 217 Luật Doanh nghiệp quy định: “Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh”.

Theo đó, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trước hết phải là doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Điều 88 Luật Doanh nghiệp. Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15.10.2015 quy định doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, không bao gồm doanh nghiệp là công ty con của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Tuy nhiên, trên thực tiễn, một số doanh nghiệp được Bộ Quốc phòng giao thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty mẹ Tập đoàn, Tổng công ty thuộc Bộ Quốc phòng sở hữu 100% vốn điều lệ. Tại thời điểm trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành, các doanh nghiệp này đã được công nhận là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ quốc phòng, an ninh (thông qua công ty mẹ Tập đoàn, Tổng công ty).

Tuy nhiên, kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành, do không thuộc đối tượng được xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, các doanh nghiệp này không được công nhận là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh dẫn đến gặp khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các cơ chế chính sách hiện hành khi hạch toán chi phí thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Hiện, Bộ Quốc phòng đang thực hiện sắp xếp doanh nghiệp thuộc Bộ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 80/TTg-ĐMDN ngày 1.10.2017 theo hướng tổ chức lại các doanh nghiệp thuộc Bộ để hình thành mô hình công ty mẹ - công ty con. Trong đó, dự kiến công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; các công ty con hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trực tiếp sở hữu và vận hành các dây chuyền sản xuất vũ khí, trang thiết bị quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh…

Như vậy, sau khi hoàn thành sắp xếp doanh nghiệp theo phương án này, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty con của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc Bộ Quốc phòng là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh sẽ không thuộc đối tượng được áp dụng các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành.

Đáp ứng thực tiễn này, đồng thời bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, nhiều chuyên gia pháp luật đã đề xuất Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Hải quan, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự, nên sửa Khoản 5, Điều 217 Luật Doanh nghiệp theo hướng: giao Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước quy định tại Khoản 2, Điều 88 Luật Doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Phạm Hải